hot
Bài đăng nổi bật
TỦ SÁCH PHẬT HỌC DÀNH CHO SMARTPHONE
Trong cuộc sống hiện đại, sách điện từ đang dần thay thế sách giấy. Các tác phẩm Phật học, trong đó có Kinh Phật, cũng không ngoài quy luật ...
Tìm kiếm Blog này
Lưu trữ Blog
- tháng 11 2021 (1)
- tháng 8 2021 (3)
- tháng 6 2021 (1)
- tháng 5 2021 (4)
- tháng 2 2021 (1)
- tháng 10 2020 (6)
- tháng 9 2020 (5)
- tháng 7 2020 (3)
- tháng 5 2020 (2)
- tháng 4 2020 (8)
- tháng 3 2020 (9)
- tháng 2 2020 (67)
- tháng 1 2020 (255)
- tháng 12 2019 (102)
- tháng 11 2019 (5)
- tháng 10 2019 (22)
- tháng 9 2019 (37)
- tháng 8 2019 (31)
- tháng 7 2019 (4)
- tháng 1 2019 (8)
- tháng 7 2018 (2)
- tháng 2 2018 (1)
Từ khoá
random posts
Labels
Popular Posts
-
Trong cuộc sống hiện đại, sách điện từ đang dần thay thế sách giấy. Các tác phẩm Phật học, trong đó có Kinh Phật, cũng không ngoài quy luật ...
-
Có một lần buổi chiều Ngài Xá Lợi Phất đang ngồi trong hương thất giữa rừng, Ngài nghe tiếng nói bằng thiên nhĩ : “ Hãy cho tôi vào gặp Ngài...
-
KINH TƯƠNG ƯNG BỘ Samyutta Nikàya Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt _______________________________ Mục lục các Tậ...
-
KINH TIỂU BỘ Khuddhaka Nikàya Tập II Giáo sư Trần Phương Lan dịch Anh-Việt CHUYỆN NGẠ QUỶ -ooOoo- GIỚI THIỆU ...
-
Tóm tắt I) Tạng Luật: Những quy định của Đức Phật về những gì tăng ni nên làm và không nên làm. II) Tạng Kinh: Nội dung Tứ Diệu Đế đượ...
-
KINH TƯƠNG ƯNG BỘ Samyutta Nikàya Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt TẬP IV - THIÊN SÁU XỨ / CHƯƠNG 2 36. Tươn...
-
KINH TĂNG CHI BỘ Anguttara Nikàya Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt _______________________________ Mục lục các Chươ...
-
KINH TIỂU BỘ Khuddhaka Nikàya Tập II Giáo sư Trần Phương Lan dịch Anh-Việt CHUYỆN THIÊN CUNG -ooOoo- Mục lục ...
-
KINH TƯƠNG ƯNG BỘ Samyutta Nikàya Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt TẬP II - THIÊN NHÂN DUYÊN / CHƯƠNG 5 16. Tư...
-
KINH TRƯỜNG BỘ Dìgha Nikàya Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt -ooOoo- MỤC LỤC KINH TRƯỜNG BỘ Lời giới thiệu 01. Ki...
Phật
Tăng
Thần Thông
Thiên Giới
Chùa
Đọa Xứ
Video
Giác Nguyên - Pháp - Tăng
(Trích các câu giảng của Sư Giác Nguyên từ nhiều bài)
1. Katamā ca, bhikkhave, sammādiṭṭhi? Yaṃ kho, bhikkhave, dukkhe ñāṇaṃ, dukkhasamudaye ñāṇaṃ , dukkhanirodhe ñāṇaṃ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ – ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammādiṭṭhi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tri kiến? Này các Tỷ-kheo, chính là trí về khổ, trí về khổ tập, trí về khổ diệt, trí về con đường đưa đến khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tri kiến.
====
Có bốn sự thật chúng ta bắt buộc phải thấy. Phải thấy nó bằng trí tuệ giác ngộ để không còn là phàm phu nữa, không còn sanh tử nữa:
1. Sự thật thứ nhứt là mọi hiện hữu ở đời là khổ dầu tất cả những thứ gì đó thuộc về 6 căn hay 6 trần thì hễ hiện hữu ở đời thì nó đều là khổ trực tiếp hay gián tiếp.
2. Sự thật thứ hai nếu mọi thứ ở đời là khổ thì những gì ta thích thú, kiếm tìm, đam mê, hưởng thụ cũng đều là trong khổ hết. Mình thích trong khổ có nghĩa là mình đang kín đáo âm thầm lặng lẽ tạo thêm cái khổ mới.
3. Sự thật thứ ba là nếu muốn hết khổ thì không tiếp tục thích trong khổ nữa.
4. Sự thật thứ tư là khi sống bằng ba nhận thức trên đây là chúng ta đang có mặt trên con đường thoát khổ.
===
Chánh kiến thứ nhứt là cái thấy chín chắn về bản chất tam tướng (vô thường tướng, khổ tướng và vô ngã tướng) của vạn hữu gồm những gì trong và ngoài chúng sinh.
Chánh kiến thứ hai thấy được cái tính nhân quả, thấy là mọi thứ ở đời nó đều tồn tại trên nguyên tắc nhân quả. Thiện thì nó đều đem lại hỷ, lạc. Ác đem lại khổ ưu, khổ thân, khổ tâm. Còn hỷ lạc là vui thân, vui tâm. Đó là cái luật của trời đất.
===
Chánh kiến gồm có 2 câu:
Câu 1: Mọi sự ở đời do duyên mà có, khi hiểu như vậy mình trừ được đoạn kiến.
Câu 2: Khi có rồi thì phải bị mất đi, cái này trừ được thường kiến.
https://toaikhanh.com/read.php?doc=201909121136&lan=vn
2. Katamo ca, bhikkhave, sammāsaṅkappo? Yo kho, bhikkhave, nekkhammasaṅkappo , abyāpādasaṅkappo, avihiṃsāsaṅkappo – ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsaṅkappo.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy? Này các Tỷ-kheo, chính là xuất ly tư duy, vô sân tư duy, vô hại tư duy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tư duy.
===
Chánh tư duy gồm có 3 đó là:
1. Ly dục tư duy
Là lìa bỏ một cách có ý thức, có chủ ý (intentionally), đối với sự cám dỗ của vật chất, của tình cảm, tình dục.
2. Vô sân tư duy
Là không có bất mãn, không có ý thức đối kháng với bất cứ người hay vật ở đời. Tôi nói các vị nghe có hiểu không? Là lìa bỏ tâm thái bất mãn, tâm thức đối kháng đối với người và vật ở đời. Lớn chuyện lắm. Nếu mình không nghe định nghĩa như vậy đó thì mình thấy Bát chánh đạo là chuyện trên mây, chuyện trên trời, chuyện của mấy bậc hiền thánh trên 9 tầng cao. Sai, không phải. Chuyện của chúng mình tại đây và bây giờ là lìa bỏ một cách có ý thức tâm thái bất mãn, tâm thức đối kháng đối với muôn loài gồm người và vật.
3. Bất hại tư duy
Là lìa bỏ một cách có ý thức tâm thái xung đột mâu thuẩn đang trên đà bạo lực, bạo động. Là một trạng thái tâm xung đột mâu thuẩn ở mức hành động qua thân và khẩu, phun ra những câu mà làm cho người ta phải máu lệ, ra tay tấn công, triệt hạ, tiêu diệt, chà đạp đối với người, với vật. Không chỉ với người mà còn với vật: giận quá đập bàn, đập ghế, đập chén, đập dĩa, đập máy móc, đốt nhà, liệng đá vô cửa kiếng. Thì cái đó đều là hại tư duy hết. Chứ đừng có nói là “Tôi có làm gì đâu? Tôi chỉ có liệng cục đá vô cửa sổ chứ có gì mà làm gì dữ vậy?" Đó là hại tư duy, có nghĩa là mình biến cái bất mãn đó thành hành động, mình dùng cái tâm thái xung đột và mâu thuẩn ở cái mức độ ngoài kiểm soát, ngoài kềm chế để dẫn đến một cái động thái bằng thể xác, tay chân, hay là bằng ngôn ngữ, lời nói để gây ra cái sự đổ vỡ, tan nát, sụp đổ, hư hao trên người và vật. Thì cái đó được gọi là hại tư duy. Lìa bỏ hại tư duy được gọi là Bất hại tư duy.
Ly dục tư duy, Vô sân tư duy và Bất hại tư duy cộng lại được gọi là Chánh tư duy.
https://toaikhanh.com/read.php?doc=202002230247&lan=vn
3. Katamā ca, bhikkhave, sammāvācā? Yā kho, bhikkhave, musāvādā veramaṇī, pisuṇāya vācāya veramaṇī, pharusāya vācāya veramaṇī, samphappalāpā veramaṇī – ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāvācā.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh ngữ? Này các Tỷ-kheo, chính là từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh ngữ.
4. Katamo ca, bhikkhave, sammākammanto? Yā kho, bhikkhave, pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, abrahmacariyā veramaṇī – ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammākammanto.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh nghiệp? Này các Tỷ-kheo, chính là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ phi Phạm hạnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh nghiệp.
5. Katamo ca, bhikkhave, sammāājīvo? Idha, bhikkhave, ariyasāvako micchāājīvaṃ pahāya sammāājīvena jīvitaṃ kappeti – ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāājīvo.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh mạng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đoạn trừ tà mạng, nuôi sống với chánh mạng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh mạng.
6. Katamo ca, bhikkhave, sammāvāyāmo? Idha, bhikkhave, bhikkhu anuppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ anuppādāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati,
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tinh tấn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm;
uppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati,
với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm;
anuppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ uppādāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati,
với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay được sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm;
uppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati – ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāvāyāmo.
với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có lu mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tinh tấn.
===
Chánh tinh tấn là cái gì? Chánh tinh tấn là nỗ lực đúng chỗ, biến từng phút trong đời trở thành ra là những phút giây giá trị. Một tháng một năm trôi qua là một tháng một năm có giá trị vì một tháng một năm ấy có nỗ lực.
Nỗ lực trong hai điều, bỏ đi cái ác và vun bồi cái thiện. Tứ chánh cần gôm gọn còn có hai điều đó thôi: Nỗ lực bỏ cái gì không cần thiết và vun bồi cái cần thiết. Đó gọi là chánh tinh tấn. Người cư sĩ đương nhiên là cái sự nỗ lực tinh tấn nó không giống người xuất gia. Người xuất gia thì tùy cái hạnh nguyện. Có vị thì tinh tấn để gầy dựng đạo tràng, làm trụ trì, có vị trở thành một thiền sư, có vị trở thành một pháp sư, giảng sư, v.v. Nhưng mà nói chung lại tất cả mọi nỗ lực trong Phật Pháp đều phải nhắm đến hai cái tinh thần: một là tự lợi, đem lại lợi ích cho mình đời này và đời sau; thứ hai là lợi tha, có nghĩa là bất cứ một xuất sử nào của tam nghiệp đều phải có thêm ý nghĩa thứ hai nó mới thật sự là trọn vẹn. Đó là anh làm cái gì lúc nào cũng phải tính đến thiên hạ.
https://toaikhanh.com/read.php?doc=202002201018&lan=vn
Katamā ca, bhikkhave, sammāsati? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ;
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, với mục đích điều phục tham ưu ở đời;
vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ;
Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời;
citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ;
Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời;
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ – ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsati.
Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh niệm.
===
Katamo ca, bhikkhave, sammāsamādhi? Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh định? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
Vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.
Làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tỉnh, nhất tâm.
Pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti – ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.
Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba.
Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati – ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsamādhī’’ti.
Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh định.
===
Định có nhiều cấp:
1. Định của người đắc Sơ thiền, Nhị thiền trở lên là kiên cố Định.
2. Cận Định là Định của người xém đắc. Chỉ còn tí nữa là đắc Sơ, Nhị, Tam, Tứ thiền. Thì cái thiền dẫn nhập đó, thiền thềm ba, thiền mái hiên đó, khả năng đó gọi là Cận, là gần, là Upacāra.
Cận định và Kiên cố định bắt buộc phải có ở người có tu tập thiền định chứ không thể có ở người bình thường.
3. Sát na Định là khả năng tập trung trong tích tắc. Thí dụ như mình đang chạy xe đạp cũng phải có một chút Định trong đó. Khi mình lặt rau, bắt chí, may vá cũng phải có một chút Định trong đó. Định đó là Khanika samādhi là Định tạm thời, Định trong từng khoảnh khắc. Đừng có chê nó. Đúng, nó không bằng 2 Định kia; nhưng nó chính là cái Định mà mình dùng để tu tập Tứ niệm xứ.
Đang đi biết là đang đi, đó là Niệm, nhưng Niệm ở đây nó phải được hỗ trợ từ Định. Định và Niệm không có rời nhau. Cho nên ở trong kinh ghi rất rõ. Từ Thanh tịnh đạo cho đến bộ Vô ngại giải đều nhìn nhận: Muốn đắc đạo thì phải gọi là Pañcindriya samatha, là sự quân bình, sự thăng bằng, sự cân đối của 5 Quyền gồm có Tín Tấn Niệm Định Tuệ.
https://www.toaikhanh.com/read.php?doc=201912270202&lan=vn
Nguồn: fb Kien Cao-Xuan
Giác Nguyên - Pháp
Tại sao tôi chịu khó tôi kể kỹ chuyện của Ngài Ca-diếp? Bởi vì không có Ngài là tụi mình bây giờ là đi hốt rác hết rồi!
Nói đến Ngài MahàKassapa (Maha Ca-Diếp) thì có cái chuyện đặc biệt phải kể.
Cách đây 100 ngàn đại kiếp thì Ngài là một người cư sĩ, thỉnh Đức Phật Padumuttara và Chư Tăng về nhà cúng dường. Thì hôm đó khi Đức Phật và Chư Tăng đang ngồi trong nhà ông thì ông thấy có một Tỳ-kheo ôm bát đi ngoài đường. Ông mới cho người chạy ra thỉnh Ngài vào luôn. Ngài này tướng hảo quang minh, chói ngời mô phạm, đạo cốt tiên phong, đẹp lắm! Nhưng mà khi ra mời thì Ngài từ chối, Ngài nói là:
- Ta chỉ nhận thức ăn trong bát, chứ ta không có vào ngồi ăn bên trong nhà như vậy.
Ông này nghe như vậy thì ông để bát. Xong rồi là Ngài đi. Ông cư sĩ này mới vô hỏi Đức Phật vì sao mà có chuyện đó. Vì sao vị đó không chịu vào đây ngồi dùng chung với Thế Tôn và Chư Tăng mà lại đi kiểu đó? Trong Chú Giải nói rằng Đức Phật lúc đó Ngài cố ý. Cái chuyện vị kia và cả Đức Phật lúc đó đều là do sự sắp đặt hết! Ngài cố ý cho ông thấy vì Ngài biết cái ông cư sĩ này sẽ mê cái hình ảnh đó. Chứ còn cả Đức Phật lẫn cái vị kia đều A-la-hán hết, có ai mà muốn ăn uống gì ba cái vụ kính bái của người ta đâu! Nhưng mà tại vì muốn giúp ông này.
Đức Phật Padumuttara Ngài mới giải thích thế này:
- Như Lai và Chúng Tỳ-kheo thì có thể dùng ngọ ở trong mái che hay ăn trong bát ở ngoài rừng, ngoài bụi cũng được, tùy duyên. Nhưng riêng những vị hạnh đầu đà như vị đó thì người ta chỉ có ăn trong bình bát thôi, đói no, ngon dở, nóng lạnh, hẩm hiu, thì có bao nhiêu đó thôi!
Rồi Ngài mới liên tục Ngài nói Như Lai và Chúng Tỳ-kheo có thể ở trong nhà có mái che, có lợp, có lót, có vách, có phênh, có cửa, có nẻo đàng hoàng, nhưng những Tỳ-kheo như ngươi mới thấy đó, là chỉ có ngoài rừng, ngoài bụi, hang động, gốc cây mà thôi. Như Lai và Chúng Tỳ-kheo, ai may Y sẵn cúng thì nhận cũng được nhưng mà vị Tỳ-kheo hồi nãy thì không, phải tự mình đi lượm. Rồi Ngài nói một hơi về 13 Pháp Đầu Đà.
Ông cư sĩ này ông nghe ông mê quá mê. Từ cái khuynh hướng tâm lý mà ông hết cái để mê, ông lại đi mê cái kiểu tu mà "đoạn trường tân thanh" như vậy mới mệt chứ! Ông cúng dường xong, ông nguyện:
- Mai mốt đời sau con nguyện trở thành một vị Tỳ-kheo giống y chang như vậy trong đời tương lai.
Thế là sau nhiều kiếp luân hồi, thì Ngài đi qua kiếp này kiếp kia, lúc siêu, lúc đọa. Có cái vụ này mới quan trọng: Qua nhiều kiếp luân hồi, lúc siêu, lúc đọa, cũng làm chó heo mèo vịt, làm trùn, làm dế, rồi tùm lum hết, rồi cuối cùng trở lên làm người, đại khái vậy.
Sẵn đây chúng tôi nói luôn là Bồ Tát Chánh Đẳng Giác, sau khi được thọ ký thì dầu có sa đọa cũng không sanh làm loài nào nhỏ hơn cái nắm tay. Thinh Văn thì bất định nhưng riêng Bồ Tát Chánh Đẳng Chánh Giác thì sau khi mà được thọ ký dầu có sa đọa cũng không có sanh làm loài nào mà nhỏ hơn cái nắm tay. Độ lớn thì không giới hạn, nhưng mà nhỏ thì không nhỏ dưới cái nắm tay. Vì sao? Vì do cái phước ba-la-mật nâng đỡ. Khi làm cái loài nhỏ quá, cái não trạng của nó có vấn đề. Thí dụ như làm con tôm, con nghêu sò ốc hến, làm con ruồi, con muỗi, .... mang tiếng là chúng sanh mà cái đầu của nó như cục đất vậy đó! Thì do cái phước của Ngài nâng đỡ, dầu có bị đọa cũng không có làm cái loài mà trong Kinh kêu là muội lược như vậy. Do cái phước ba-la-mật nó nâng đỡ. Người có phước ba-la-mật nâng đỡ dầu có bị đọa cũng khác người ta một chút. Phải nhớ ở chỗ này. Cũng giống như người đẹp, dầu có lấm lem lọt xuống hầm phân thì cũng là đẹp.
Trúc xinh trúc mọc đầu đình,
Em xinh em đứng dưới sình cũng xinh!
Thì ở đây có kiếp Ngài làm con này, kiếp làm con kia, mãi cho đến đời Phật Vipassì (Phật Tỳ-ba-thi). Nhắc lại, vị Phật đầu tiên Ngài gặp để nguyện là Phật Padumuttara, vị này là cách nay 100 ngàn đại kiếp. Tất cả Đại Thinh Văn của Thế Tôn đều được vị này thọ ký. Vì sao vị này phải có mặt cách Đức Phật mình tới 100 ngàn đại kiếp? Vì cái thời gian đó là thời gian bắt buộc để cho tất cả những vị Đại Thanh Văn đệ nhất này, đệ nhất kia, họ có đủ thời gian để họ nguyện. Sau khi Ngài Ca-diếp Ngài gặp Phật này xong rồi luân hồi không biết bao nhiêu kiếp, cho đến đời Phật Tỳ-bà-thi (Vipassì) cách đây là 91 đại kiếp thì Ngài Ca-diếp lúc đó Ngài sanh làm một ông Bà-la-môn nghèo. Nghèo coi như là không có cục đất chọi chim, không có miếng đất cắm dùi. Nghèo lắm. Hai vợ chồng chỉ có một miếng vải choàng thôi. Ở dưới thì lấy bắt chước như Trần Minh khố chuối, quấn tầm bậy tầm bạ. Nhưng phần trên khi đi ra ngoài muốn có mặt mũi với người ta, thì hai vợ chồng có cái áo choàng thôi. Lúc đó thiên hạ thái bình, chúng sanh an cư lạc nghiệp, ngủ không cần đóng cửa, của rơi ngoài đường không ai lượm. Chúng sanh sống đúng như là nằm trâu thổi sáo, mơ đời Thuấn Nghêu, cái thời an bình vậy đó!
Tuy thái bình thịnh trị nhưng mà theo thông lệ xã hội thì đàn ông đi đêm ok còn đàn bà đi đêm thì nó hơi kỳ. Đàn bà con gái con lứa mà đêm hôm lầm lầm lũi lũi thui thủi bước đi trên đường hoang vắng thì cũng kỳ. Cho nên lúc đó những phật tử đi nghe Pháp ban đêm thường là nam. Còn ban ngày thì nữ muốn đi thì đi. Sở dĩ tôi phải dài dòng như vậy để cho bà con đừng có thấy lạ. Ngài Ca-diếp kiếp này sanh vào làm một ông Bà-la-môn nghèo lắm, mà hai vợ chồng chỉ có cái áo choàng thôi,
Trong cái kiếp này Ngài nghèo lắm mà Ngài đi nghe Pháp thì Ngài thích quá. Ngài mới suy nghĩ hoài: "Thiệt tình thấy người ta cúng dường ham quá. Mình thì gia tài có mỗi cái khăn này. Mình đàn ông con trai mình không có choàng thì không sao, chứ còn bà xã của mình sao? Bây giờ cúng dường cái khăn thì khi bả đi chùa bả không có cái gì quấn coi sao được?"
Ngài cứ do dự do dự mãi cho đến nửa đêm thì Ngài quyết định cắn răng Ngài cúng. Ngài càng nhìn Phật là Ngài càng thương càng quý nên Ngài cúng cho Phật. Ngài thấy tắm khăn choàng của mình cũ quá, Ngài không biết Phật có thề dùng nó cho việc gì nên Ngài xếp và để phía trước chỗ Phật ngồi để Phật lau chân. Chỉ vậy thôi!
Trong Kinh nói ông vua đệ tử ruột của Đức Phật, cỡ như ông Cấp-cô-độc vậy đó, đêm đó ông đi nghe Pháp. Ổng nhìn thấy cái miếng vải chùi chân phía trước Đức Phật nó sáng chói lòa! Ông mới ngạc nhiên lắm:
- Bạch Thế Tôn, cái miếng vải này bằng cái chất liệu gì mà đặc biệt quá?
Đức Phật Ngài dạy rằng:
- Bình thường thôi, không có gì đặc biệt hết Đại vương à. Nó chói lòa là vì cái tín tâm của cái người cúng dường đó thôi!
Thì ông vua nghe ông lạ lắm:
- Bạch Thế Tôn, chúng con cũng cúng dường, cũng tín tâm thuần cốt, chúng con cũng thương Phật, quý Phật, kính Phật, trọng Tăng, mà tại sao không có được cái hiện tượng này?
Đức Phật nói:
- Các ngươi cúng dường nhiều thiệt, nhưng mà tính ra cái ông này Đạo Tâm của ông nó thuần cốt, nó đặc biệt lắm. Có thể nó đặc biệt hơn. Gia tài người ta chỉ có một cái mà người ta đã hy hiến trọn vẹn không giữ lại!
Ông vua nghe như vậy ông thương quá, ông mới đem cúng, ông đem tặng lại cho ông này những miếng vải choàng mà trị giá hàng ngàn đồng vàng. Thì ông nhà nghèo này mới suy nghĩ: Tại sao mình nghèo? Là tại vì mình không có bố thí. Bây giờ gia tài mình có một tấm để choàng mà mình cũng cúng làm phước. Bây giờ lại có được nhiều, thì tại sao mình không làm phước tiếp? Ông mới bèn đem cúng tiếp cho Phật. Vua cho bao nhiêu ông đem cúng hết cho Phật chỉ giữ lại 2 cái cho ông với vợ ông thôi! Chưa hết. Cái tích nó dài dữ lắm. Rồi hết cái kiếp đó ông về trời, rồi ông lọt xuống. Cũng đọa nữa! Đi vòng vòng vòng vòng làm vua, làm tướng, ăn mày, ăn cướp, thầy chùa, du đãng, đủ thứ, rồi trùn dế cào cào, trâu heo chó ngựa, đi vòng vòng vòng vòng. Đã gọi là luân hồi mà. Quý vị biết cái đó mới thấy xanh mặt!
Cuối cùng trong vòng luân hồi, trong đây tôi kể vắn tắt là nhiều kiếp và rất nhiều kiếp, Ngài Ca-diếp có duyên đặc biệt với các Đức Phật Độc Giác. Tức là những lần mà không có gặp Chánh Đẳng Chánh Giác, thì Ngài cứ gặp Đức Phật Độc Giác rất là thường. Độc Giác nghĩa là tự ngộ mà không có đệ tử. Mà vì sao ông hay gặp họ? Vì cái tâm! Cái tâm mình lành nên hễ trên đời có Hiền Thánh là mình có cơ hội gặp.
Khi ta có tâm lành thì tự nhiên không có Chánh Đẳng Chánh Giác thì cũng gặp được Độc Giác, mà không có Độc Giác cũng gặp Đạo Sĩ chân tu. Còn người không có lòng cầu Hiền, thì 8 ngàn vị A-la-hán có đứng trước mặt mình cũng như đui mù không thấy được. Người có lòng cầu Hiền, cầu Thánh thì trên đời này hễ có Thánh, có Hiền là tự dưng, một là Thánh Hiền họ sẽ thấy căn cơ của mình họ tới họ cho mình gặp. Còn hai nữa duyên cũng đẩy đưa để cho mình tới mình gặp mấy vị đó. Cái chỗ này nó vô cùng và vô cùng quan trọng. Rất là quan trọng. Có được cái lòng cầu Hiền không phải dễ đâu.
Có một người con gái kiếp xưa cách đây 100 ngàn đại kiếp, khi nàng nghe Ngài Ca-diếp được thọ ký sau này thành đệ nhất đầu đà nàng đem lòng thương quý và từ đó hễ có dịp luân hồi là họ gặp nhau, là sáp vô nhau; có lúc làm bạn, có lúc làm chị em, có lúc làm vợ chồng, có lúc làm mẹ con, mà cứ như vậy suốt mùa thu sanh tử. Đến cái kiếp cuối cùng thì chàng và nàng đều sanh về cõi Phạm Thiên. Rồi từ Phạm Thiên do duyên lành thúc đẩy cả hai đều sanh xuống cõi người, và gặp được Giáo Pháp, xuất gia, đắc La-hán hết.
Chuyện đời của Ngài Ca-diếp dài lắm. Khi trên Phạm Thiên Ngài xuống thì vì Ngài ở trên đó lâu quá cho nên cái lòng của Ngài ly dục. Ngài gặp nữ sắc Ngài không có cảm giác. Ăn ngon mặc đẹp cũng kông có cảm giác. Nói chung là 5 dục đã không có cảm giác mà còn thấy ớn, thấy mệt. Gia đình Ngài là đại thế gia, trang trại rộng đến mức không thể đi bộ mà chỉ có thể cỡi ngựa phóng ào ào để coi người ta làm sao rồi quay trở về, gác chân lên nằm nghỉ ngơi, không có đi tà tà được vì rộng lắm!
Một bữa trưa Ngài thấy nắng chang chang mà sao thấy mấy con trùn nó nóng quá nó chun lên mặt đất, nó bò quằn bò quại, rồi kiến bu, rồi mấy con chim tới mổ ăn, con chim lớn rượt con chim nhỏ, ... Tất cả những hình ảnh đó, trời thì nắng chang chang, mồ hôi nhễ nhại, rồi gặp sâu bọ giòi trùn dế chim chóc rượt nhau, rồi tiếng người làm công kêu gọi nhau ơi ới, cả một không gian âm thanh ánh sáng hỗn độn mà mõi mệt, khiến cho Ngài chạnh lòng. Ngài nghĩ: "Trời đất! Nếu mà quả thật cuộc sanh tử này chỉ có chừng này thôi, thì cuộc đời này có gì đáng sống nữa hả trời! Mình là đại gia phú hào mà mình thấy còn mệt mõi, thì huống gì những người khố rách áo ôm, giật gấu vá vai, không đủ ăn, không đủ mặc thì họ còn khổ cỡ nào nữa!" Ngài nghĩ như vậy, Ngài ngán quá! Ngài mới trở về gác tay lên trán nằm trằn trọc thao thức không yên. Gia đình mới ra hỏi Ngài: "Bây giờ con lớn con lấy vợ đi chứ!" Ngài nói "Con không muốn." Gia đình ép, khóc, năn nỉ. Cuối cùng Ngài bèn cho thợ đúc một bức tượng vàng do chính Ngài vẽ kiểu, với những nét đẹp thiên kiều bá mị, lộng lẫy kiêu sa, mà Ngài nghĩ rằng trên đời này không thể nào mà có người con gái nào đẹp hơn vậy. Xưa nay đẹp cỡ đó là bất khả. Gọi là đẹp như mơ, xinh như mộng, đẹp như tiên. Ba cái - mơ, mộng và tiên - thì mấy cái này làm gì có trong cái nhận thức nhân gian.
Nhưng mà người ta không ngờ rằng gia đình cho người cầm bức tượng đó đi vòng vòng thiên hạ. Cuối cùng đã tìm ra một người con gái đẹp y chang như cái bức tượng vàng đó, mà dĩ nhiên là còn đẹp hơn nữa: đường nét thì giống, nhưng mà màu da ngon lành hơn. Mà lạ lắm. Do duyên xưa nó thúc giục nên người con gái đó chính là cái người hồng nhan tri kỷ mà đã đi theo Ngài suốt 100 ngàn đại kiếp. Khi nghe nói tới thanh niên Pipphali thì tự nhiên nàng chạnh lòng xúc động. Trước đó nàng gặp đàn ông thì chỉ là coi như phường phàm phu không đáng cho sờ vạt áo. Vậy mà hôm đó chỉ nghe nói đến tên Pipphali, nàng có một chút xao động - cái thuở ban đầu lưu luyến ấy.
Trên đường đi về nhà chồng, nàng âm thầm viết một lá thư gửi cho Ngài, nàng nói thế này: "Túc hạ nhã giám. Duyên bèo nước tương phùng gặp nhau trở thành nghĩa tào khang. Không biết mặt nhau mà bây giờ lại về sống với nhau. Nhưng nói thiệt, lòng của thiếp chỉ muốn buông bỏ hết mọi sự. Còn đi đâu về đâu thì chưa biết. Nhưng còn chuyện mà sống kiểu nhi nữ tình trường thì ôi thôi nó ngán ngẫm quá. Nếu mà Ngài có lòng thương thì cưới nhau cho hai họ vui vẻ rồi mỗi đứa về ngủ một giường. Sau đó Ngài muốn lấy thê lấy thiếp bao nhiêu em cũng không có ý kiến!"
Nhưng không ngờ cái lá thư đó chưa kịp đi thì nàng bèn nhận một lá nội dung y chang như vậy: "Tiểu thư nhã giám. Tại hạ là vốn dĩ không mê cái đường tình ái lăng nhăng. Chẳng qua vì vui lòng cha mẹ, cho nên tại hạ mới lấy vợ. Nhưng mà lấy nhau rồi, về làm ơn cho em ngủ riêng một mình."
Hai lá thư đó chạm nhau trên đường và cả hai người đã nhận lá thư cùng một lúc. Họ vui lắm! Thế là tri kỷ đã gặp tri âm rồi. Đêm động phòng hai người để một cái chuỗi hoa tươi nằm giữa và dặn rằng chuỗi hoa này là biên giới, là chủ quyền biển đảo được xác định ngay trên cái chuỗi hoa này. Sáng mai hoa héo phía nào là phía đó dở. Cứ như vậy mà cái chuỗi hoa để giữa không bị héo. Và cứ vậy, tân lang tân nương sống với nhau được mấy hôm thì cuối cùng họ bàn với nhau thế này: Sống mà kiểu này nó mệt quá! Đi tu cho rồi!
Họ mới mặc áo nâu sòng rời nhà ra đi. Trong Kinh nói Ngài Ca-diếp có 7 tướng đại nhân. Ngài Rahula thì có 32, còn riêng Ngài Ca-diếp có 7 tướng. Ông Bà-la-môn Bàvari có 3 tướng. Một lúc nào đó mình sẽ học tới mấy cái đó: tướng lưỡi dài rộng, tướng duỗi thẳng tay rờ gối, tướng mã âm tàng, đại khái có tất cả là 7 tướng. Thì Ngài đẹp lắm! Mà bà cũng đẹp lộng lẫy. Trên đường đi tuy hai người ăn mặc áo tu mà người ta cứ xì xào: "Trời đất ơi! Có lộn không? Đẹp như vầy, trẻ như vầy, mà tại sao bỏ hết đi tu vậy trời?" Khi Ngài nghe như vậy Ngài thấy không xong, hai người mới bàn với nhau, rồi chia tay, ai gặp Đạo Giải Thoát trước thì sẽ về tìm cái người còn lại! Thì khi hai vị chia tay nhau ngay chỗ ngã ba với một lời dặn dò giống như là Ngài Mục-kiền-liên Ngài dặn Ngài Xá-lợi-phất vậy: "Thôi thì mỗi người đi một hướng, ai tìm được Đạo Giải Thoát trước thì trở về tìm người kia."
Khi hai vợ chồng Ngài Ca-diếp chia tay nhau thì cái Đại Địa này nó rung động, nó cảm kính, gọi là chiêu cảm. Cả trái đất rung động. Thì lúc đó Đức Thế Tôn ở trong Chùa Trúc Lâm Veluvana, Ngài bằng thiên nhĩ Ngài nghe được cái sự dao động trong lòng đất. Ngài nghe cái địa chấn như vậy, Ngài mới suy nghĩ nhanh liền: Vì sao có chuyện này? Ngài biết đó là cuộc chia tay của hai bậc gọi là Đại Sĩ.
Thế là Đức Thế Tôn lập tức có mặt ở chỗ ven rừng mà Ngài Ca-diếp sắp sửa đang hướng tới. Ngài Ca-diếp vừa đến ven rừng thì Ngài nhìn thấy có một nhân vật 32 hảo tướng, 6 màu hào quang chói lòa, đang ngồi ở đó. Ngài chưa gặp Phật bao giờ, chưa hề nghe gì về Phật bao giờ, vừa nhìn thấy là Ngài đến Ngài quỳ xuống và lấy cái trán dập xuống dưới chân Thế Tôn và có một câu lễ bái như thế này:
- Thế Tôn là Đạo Sư của con và con là đệ tử của Thế Tôn.
Tại sao tôi chịu khó tôi kể kỹ chuyện của Ngài Ca-diếp? Bởi vì không có Ngài là tụi mình bây giờ là đi hốt rác hết rồi! Bởi vì Ngài là cái người tổ chức kiết tập Phật Ngôn lần thứ nhất. Chính Ngài là người đã san định lại cơ đồ hồng phù đại lược của Phật Giáo!
Chuyện Ngài Ca-diếp có liên quan đến một chuyện mà Phật tử Việt Nam bắt buộc phải biết. Tôi đã nói nhiều về cái chuyện Đại hiếu Mục-liên. Đó là một sự tráo đổi giữa Ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên; giữa Nam Tông và Bắc truyền.
Bữa nay tôi kể cái chuyện Ngài Ca-diếp được gọi là phó chúc, được gọi là trao cho Chánh Pháp nhãn Tạng như thế nào trong Kinh Điển Nam Tông. Thì nó như thế này. Trước cái ngày mà Thế Tôn gặp Ngài Ca-diếp, Thế Tôn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài xét thấy rằng Chư Phật ba đời đều có tối thiểu một lần đi lượm vải cũ, vải dơ, để về tự tay mình giặt rồi làm Lá Y để mặc. Ngài xét thấy Chư Phật ba đời đều có một lần như vậy. Nên hôm đó đích thân Ngài vào trong rừng, chỗ người ta liệng xác người chết. Ngài thấy có một cái xác của một cô đầy tớ gái - cô nữ tỳ- chết rồi. Người nhà mới lấy miếng vải trắng quấn xác đem vô liệng trong rừng. Đích thân Thế Tôn Ngài lấy cái miếng vải đó Ngài ra suối Ngài giặt. Trong Kinh nói khi Thế Tôn Ngài ra suối Ngài giặt như vậy đó, nhiều cái chuyện đặc biệt nó đã xảy ra. Tôi kể ra đây bà con nói phong thần tôi dẹp luôn khỏi kể! Tôi chỉ kể rằng khi mà Ngài ra suối giặt vải như vậy thì Đại Địa chấn động 9 lần! Rồi Ngài về Ngài mới đưa cho Ngài Anan nhuộm, cắt, may thành Lá Y để Ngài mặc. Ngài mặc Y đó trong cái bữa Ngài gặp Ngài Ca-diếp
Khi gặp Ngài Ca-diếp, Đức Phật Ngài có khen thế này:
- Lá Y của Ca-diếp đẹp quá!
Không đẹp sao được? Ngài Ca-diếp là đại gia, đi tu nhưng cũng mặc toàn là silk, khăn choàng cũng là Hermes, LV, chứ đâu có xài cái đồ mà tào lao như mình.
Ngài Ca-diếp Ngài mới nói:
- Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn vì lòng đại bi mà đổi Y với con, con sẽ mặc Y của Thế Tôn và Thế Tôn sẽ mặc Y của con.
Thì Đức Phật mới dạy thế này:
- Ca-diếp có biết rằng Lá Y của Như Lai đang mặc này không có ai cũng mặc được. Đây là cái Lá Y mà do chính Ta đã nhặt vải về, rồi để Anan may nhuộm cho Như Lai, nhưng mà Ca-diếp thì được!
Ngài nói như vậy là bắt đầu hai Thầy Trò có cuộc trao đổi Y. Mà tại sao có cuôc trao đổi kỳ lạ như vậy? Vì Ngài biết cái người trước mặt Ngài là ai. Ngài biết đây sẽ là Đệ Nhất Tôn Giả Đầu Đà. Là vị sẽ cầm cái lá cờ Ly Dục Tôn của Chư Phật ba đời mười phương.
Cho nên mới có cái chuyện đổi Y đó. Chứ không phải là trao truyền y bát, phó chúc Chánh Pháp nhãn Tạng như Bắc tông nói đâu. Lịch sử thiền tông họ kể nghe thơ mộng, nhưng mà không phải vậy. Chuyện ở đây là như vậy đó! Chuyện cái vị kế thừa tinh thần Ly Dục Tôn.
Trích bài giảng Kinh Tăng Chi số 007
Kalama xin tri ân bạn sumanaduong ghi chép
Giác Nguyên - Tăng
Người Phật tử Việt Nam xưa nay thường biết đến khái niệm Tịnh độ qua các kinh nói về Phật Di Đà (Amitābhasutra và Sukhavativyūhasutra) từ Hán tạng, vốn được phiên dịch từ kinh điển Sanskrit. Ở đó, cõi Tịnh độ hay Cực lạc (Phạn ngữ Sukhavatì) được mô tả là cảnh giới tuyệt vời với tất cả những sự thù thắng, trang nghiêm.
Con đường dẫn đến cõi này có thể chỉ gói gọn trong công phu trì niệm hồng danh Phật Di Đà. Ngoài sự thanh tịnh có được từ việc nhất tâm niệm Phật Di Đà, oai lực của Ngài cũng thừa sức tiếp dẫn vong linh người niệm Phật vãng sinh về thế giới Tịnh độ để họ tiếp tục tu hành trong điều kiện thuận lợi hơn xưa gấp triệu lần. Cõi ấy giữa người với người không hề biết tương tranh, thù hận vì ở đó không có chuyện chiếm hữu lợi danh như ở cõi Ta bà nhiều kiếp nạn này.
Nhưng đó là theo kinh điển Hán tạng, nguồn giáo lý chủ đạo của Phật giáo Bắc truyền. Trong bài viết này ta thử tìm hiểu vấn đề qua kinh điển Pāli, nguồn giáo lý căn bản của Phật giáo Nam truyền. Dĩ nhiên, trong Tam tạng Pāli cũng có khái niệm Tịnh độ (nếu ta muốn gọi thế) với những trình bày thật rõ ràng về cảnh giới này, những cư dân ở đó và con đường dẫn đến cảnh giới Tịnh độ, tức phép cầu vãng sanh theo kinh điển Nam truyền.
CÕI TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PĀLI
Trước hết, cõi Tịnh độ được biết đến trong kinh điển Pāli qua danh từ Suddhāvāsa, còn được dịch là Tịnh cư, theo lối chiết tự Suddha (thanh tịnh) và Āvāsa (chỗ ở). Vậy Suddhāvāsā cũng có thể được dịch là Tịnh độ, Tịnh thổ. Thậm chí chữ Pāli này còn gần gũi với chữ Tịnh độ, Tịnh thổ hơn là Sukhavati (chốn An lạc), một chữ chỉ có thể xem là tương đương với từ Sugati (Lạc cảnh, Thiện thú) trong kinh điển Pāli, chỉ chung cho các cõi nhân thiên.
Theo các chú sớ A Tỳ Đàm, có tất cả 5 cõi Tịnh độ, nằm trong 16 cõi Phạm thiên Hữu sắc, và là chỗ tái sanh của các bậc Thinh văn Bất lai hay còn gọi là A na hàm (Anāgāmi người không còn trở lại các cõi dục giới). Tuy cảnh giới này chỉ gồm toàn các vị Bất lai và A-la-hán (chứng A-la-hán sau khi sanh về đây), nhưng trên căn bản vì vẫn là cõi Hữu sắc nên ở 5 cõi Tịnh độ này vẫn có những lâu đài, hoa viên rất trang nghiêm, dĩ nhiên không phải là nơi chốn hưởng thụ, mà đó chỉ là những dấu vết tối thiểu của một cõi Ngũ uẩn (1). Về tuổi thọ, chư Thánh Bất lai ở cõi thấp nhất trong 5 cõi Tịnh độ là cõi Vô phiền (Avihā) có thọ mạng 1.000 đại kiếp, kế đến là cõi Vô nhiệt (Ātappā) có thọ mạng 2.000 đại kiếp, cõi thứ ba là Thiện hiện (Sudassā) có thọ mạng 4.000 đại kiếp, cõi thứ tư là Thiện kiến (Sudassì) có thọ mạng 8.000 đại kiếp và cõi Sắc cứu cánh (Akanittha) có thọ mạng 16.000 đại kiếp.
Do có những lúc trải qua một thời gian dài không có chư Phật ra đời độ sinh nên dân số trên 5 cõi Tịnh độ chỉ có giảm mà không được bổ sung, do vậy cũng có những thời điểm 5 cõi này không tiếp tục tồn tại.
CƯ DÂN TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PĀLI
Trước tiên là trình bày đại lược về 4 tầng Thánh trí làm nên 4 bậc Thánh nhân và chính Đức Phật cũng được kể vào đó. Sơ quả hay Tu đà hoàn (Sotāpatti, Dự lưu), còn được gọi là Thất lai, người không thể tái sanh quá 7 lần, là vị đã chấm dứt hoàn toàn 3 thứ phiền não thân kiến ( nôm na là chấp kiến trong 5 uẩn), hoài nghi (nghi ngờ về Phật pháp nói chung) và giới cấm thủ (chấp trước các tín điều mù quáng). Ở một số vị, thánh trí Sơ quả chỉ là một giai đoạn thoáng qua trước khi hoàn tất các tầng thánh trí cao hơn. Như trường hợp Đức Phật hoặc các vị Thanh văn tốc chứng. Nhưng cũng có lúc giai đoạn này kéo dài trong nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều năm hoặc vài kiếp sống (dĩ nhiên không quá 7 kiếp). Sớ giải Trường Bộ ghi rằng Thiên vương Đế Thích hiện nay là một vị Thánh Sơ quả. Khi hết tuổi thọ, ngài sẽ sinh xuống nhân gian làm Chuyển luân vương và chứng đắc Nhị quả Tư đà hàm. Sau đó sanh lên Đao Lợi thiên chứng Tam quả A na hàm và lần lượt tái sanh ở đủ 5 cõi Tịnh độ, bắt đầu là cõi Vô phiền, cuối cùng ngài sẽ chứng quả A-la-hán và nhập diệt ở cõi Sắc cứu cánh.
Tầng Thánh trí thứ hai là Nhị quả Tư đà hàm. Ngoài 3 phiền não đã chấm dứt ở tầng thánh trước, quả vị này còn làm giảm nhẹ dục ái và sân hận. Do chỉ còn có thể tái sanh cõi Dục giới một lần nữa thôi, nên quả vị này còn được gọi là Nhất lai (Sakadāgāmī).
Tầng Thánh thứ ba là Tam quả A na hàm (Anāgāmi), nghĩa là bậc Bất lai, người không còn trở lui các cõi dục giới nữa (có tất cả 11 cõi Dục giới). Theo A Tỳ Đàm tạng Pàli thì do đã chấm dứt dục ái (niềm tham luyến trong ngũ trần) và sân hận nên vị Thánh Tam quả trong trường hợp không thể chứng A-la-hán rồi nhập diệt ngay đời này thì có hai con đường để đi:
Nếu đã chứng đắc Ngũ thiền thì sẽ tùy theo khả năng mạnh yếu của Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ mà sanh về một trong năm cõi Tịnh độ. Tín nổi trội thì sanh về cõi Vô phiền, Tấn hùng hậu thì về cõi Vô nhiệt, Niệm hùng hậu về cõi Thiện hiện, Định hùng hậu thì về cõi Thiện kiến, Tuệ thâm hậu thì sanh về cõi Sắc cứu cánh (Pāli gọi là Akanittha, Không thứ gì yếu kém). Ở cõi Tịnh độ thứ năm này toàn bộ Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ đều được sung mãn; vì đây là nơi chốn sau cùng để một vị Bất lai chứng quả A-la-hán và nhập diệt.
Trong trường hợp vị Thánh Bất lai chưa chứng qua một tầng thiền định nào, tức chỉ có trí tuệ Thiền quán (Vipassanā) mà không từng tu tập Thiền chỉ (Samātha) thì lúc mạng chung, vị này do khả năng ly dục vô sân tuyệt đối nên tối thiểu cũng thành tựu Sơ thiền trước khi mạng chung ở cõi Dục giới và như vậy cũng đủ để sanh về cõi Phạm thiên thấp nhất là Phạm thiên Sơ thiền.
Do túc duyên và trình độ tu chứng có khác nhau nên giữa các bậc Thánh Tam quả cũng có vài sai biệt. Theo Manorathapurani, Chú sớ Tăng Chi Bộ (phần Tika):
– Antarāparinibbāyī (Tiền bán Niết bàn): Vị Bất lai chứng A-la-hán khi chưa sống hết phân nửa thọ mạng ở cõi Tịnh độ nào đó trong 5 cõi.
– Upahaccaparinibbāyī (Hậu bán Niết bàn): Chứng A-la-hán sau khi sống hơn nửa thọ mạng ở cõi Tịnh độ nào đó.
– Uddhamsoto Akanitthagāmī (Luân lưu Niết bàn): Do căn tánh không xuất sắc, có vị Bất lai phải lần lượt sanh đủ 5 cõi Tịnh độ mới chứng quả A-la-hán rồi nhập diệt ở cõi Tịnh độ cao nhất.
– Asankhāraparinibbāyī (Bất lao Niết bàn): Vị Bất lai có thể chứng A-la-hán mà không cần nhiều cố gắng.
– Sasankhāraparinibbāyī (Cần lao Niết bàn): Vị Bất lai phải nhiều nỗ lực mới có thể chứng A-la-hán.
Tầng Thánh trí thứ tư chính là quả vị A-la-hán, người chấm dứt toàn bộ phiền não. Theo A Tỳ Đàm Pàli thì có 3 quả vị A-la-hán: Chư Phật Chánh Đẳng Giác (Sammāsambuddha hay Sabbannubuddha- Toàn Giác) cũng là những vị A-la-hán nhưng do tự mình chứng đắc và là đạo sư hướng dẫn cho những người hữu duyên chứng đắc A-la-hán. Những vị A-la-hán đệ tử này được gọi là Thanh văn giác (Sāvakabuddha). Quả vị A-la-hán thứ ba là Độc Giác Phật (Paccekabuddha), những vị tự mình chứng ngộ A-la-hán nhưng không thể hướng dẫn người khác chứng ngộ A-la-hán. Kinh điển Hán tạng còn gọi Độc Giác Phật là Duyên Giác Phật vì cho rằng các Ngài nhờ liễu ngộ nguyên lý Duyên khởi mà giác ngộ (cách nghĩ này bắt nguồn từ những giai thoại về chư Phật Độc Giác trong Chú sớ Tiểu Bộ Kinh, một trong những bộ phận kinh điển làm nền tảng cho nhiều kinh luận hậu tác, đọc kỹ các bộ A Hàm sẽ thấy rõ điều này). Kỳ thực, nếu đọc kinh Đại Duyên trong Trường Bộ kinh, ta sẽ thấy lý Duyên khởi và lý Tứ đế (vẫn bị hiểu lầm là dành riêng cho Thanh văn) vốn dĩ chỉ là một. Trong Trung Bộ kinh, Đức Phật đã xác định ai thấy lý Duyên khởi chính là thấy Pháp và ngược lại. Đồng thời, không hề có chuyện một người giác ngộ lý Tứ đế mà lại mơ hồ về lý Duyên khởi hay ngược lại. Tất cả quả vị A-la-hán vừa nêu trên đây luôn giống nhau về khía cạnh giác ngộ các pháp cần yếu (như Tứ đế, Duyên khởi…), chỉ khác ở hai điểm chính: Tự mình hiểu ra hay phải nhờ thầy hướng dẫn và điểm thứ hai là ngoài trí tuệ giác ngộ còn có khả năng hiểu biết sâu rộng những gì nằm ngoài lý tưởng giác ngộ hay không. Xét về khía cạnh này, chỉ có chư Phật Chánh Đẳng Giác là viên mãn. Tuy nhiên, trong bài viết này, chúng ta chỉ đặc biệt nhấn mạnh quả vị Bất lai, vì đề tài ở đây là các cõi Tịnh độ.
PHÉP VÃNG SANH TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PĀLI
Vãng sanh vẫn được dùng song song với chữ siêu sanh, nhưng theo tinh thần A Tỳ Đàm Pāli thì siêu sanh còn có thể được hiểu là vượt thoát tái sanh, một điều chỉ thực hiện được bởi một vị A-la-hán. Như vậy trong trường hợp vị Bất lai sanh về các cõi Tịnh độ chỉ có thể gọi là vãng sanh. Và nếu phải trả lời câu hỏi về con đường vãng sanh Tịnh độ, thì như tất cả những gì vừa nêu trên, ta hoàn toàn có thể nói rằng vãng sanh Tịnh độ chỉ là một phần đường trên hành trình giải thoát của một vị Thanh văn, và như thế pháp môn Tịnh độ hay con đường vãng sanh trong trường hợp này cũng đồng nghĩa với hành trình Tam học, Tứ niệm xứ, Bát chánh đạo, nói chung là hành trình 37 Bồ đề phần. Các pháp trong 37 Bồ đề phần đối với nhau chỉ là mối quan hệ tương tức; cái này chính là cái kia, trong cái kia có cái này.
Như vậy, lời đáp cho câu hỏi về con đường vãng sanh là toàn bộ những gì mà ta vẫn gọi là Phật pháp và theo cách hiểu này, pháp môn Tịnh độ cần thiết cho tất cả mọi người. Đồng thời, chiếu theo tinh thần căn bản của Phật giáo mà nói thì khi nhắc đến pháp môn Tịnh độ, cầu vãng sanh không hề có nghĩa là chờ đợi sự tiếp dẫn của bất cứ ai, mà phải là sự lên đường bằng chính đôi chân của mình.
Toại Khanh
Nguồn: fb Simsapa
Giác Nguyên
Thiện là gì? Thiện là 6 căn biết 6 trần bằng tâm lành. Bất thiện là 6 căn biết 6 trần bằng tâm ác. Vui là 6 căn biết 6 trần như ý. Buồn khổ là 6 căn biết 6 trần bất toại.
Hạng chúng sanh bất thiện nó sống bằng 12 cái tâm nhân bất thiện: 8 tâm tham, 2 tâm sân, 2 tâm si là 12. Mười hai tâm nhân bất thiện đó nó sẽ tạo ra 8 tâm quả bất thiện. Mà trong 8 tâm quả bất thiện nói gọn lại là 6 căn chuyên môn biết cách bất toại. Do anh sống trong 12 tâm bất thiện, cho nên ngay bất cứ lúc nào anh có 12 tâm bất thiện xuất hiện thì một cách kín đáo lặng lẽ âm thầm anh đã tạo ra 8 tâm quả bất thiện cho một kiếp sau mà lúc nào thì trời biết, tùy nó mạnh hay yếu.
Tâm bất thiện mạnh hay yếu tùy vào ba điều kiện:
1. Đối tượng mình tạo nghiệp là đám đông hay cá nhân.
2. Tâm trạng của mình lúc mà mình làm nó chủ ý hay vô tình, nó mạnh hay yếu, thiết tha hay hờ hững.
3. Tác dụng của công việc đó mình làm vì mục đích gì.
Thí dụ: Tôi không thích đám đám đông Phật giáo này vì tôi là người không biết đạo nên mỗi lần nó tới ngồi thiền tôi bật nhạc lên lớn xíu. Nếu mà đám đông này tới vui chơi party, thì hành động tôi mở nhạc đó có tội nhẹ. Nhưng nếu mà đám đông này là học đạo, ngồi thiền là chết tôi.
Chỉ là một động tác rất là nhẹ, chỉnh volume thôi, là tôi đi địa ngục 18 kiếp. Mười tám kiếp là nói nghĩa bóng thôi chứ nó có thể là vô số kiếp. Bởi vì tôi phá đi cái cơ hội để người ta nghe đạo và hành đạo. Nếu cũng động tác này mà tôi chỉ vặn để tôi hay con tôi nghe nhạc thì khác, nhưng hôm nay tôi vặn để phá đám bên đấy thì lúc đó tôi nghĩ gì? Tôi thấy đông đông tôi tưởng đám Phật giáo đó là party phá cho vui thôi thì lúc đó ý tôi lại khác. Nhưng nếu mà tôi biết chính xác cái đám này nó đang mê hành thiền, nó đang learning Buddhism thì lúc đó tội nó khác. Cho nên tùy đối tượng đó là đám đông hay cá nhân, dụng tâm chủ ý là gì và tác dụng cùng hiệu quả, hậu quả của nó là gì.
Trong Kinh ghi rất rõ, cũng công sức đó, thời gian đó, tài sản vật chất đó bỏ ra, nếu mà ta nhắm tới đối tượng tập thể và nhất là ta nhắm đến tác dụng lâu bền thì công đức đó chẳng thể nghĩ bàn. Ví dụ xây dựng cầu, đường, đào giếng ... số người sử dụng 3 cái này nhiều hay ít? Và việc sử dụng nó là không có giới hạn biết tới kiếp nào mới hư, và số lượng người dùng nó không thể đếm kể. Thí dụ tôi chỉ bỏ ra 2000$ để đào cái giếng ở Miến Điện thì công đức đó chẳng thể nghĩ bàn. Bởi vì số người xài nó gồm có Tăng, Ni, Phật tử, cư sĩ, những người dùng giếng đó là những người học đạo, hành đạo và có lẽ là những người chứng đạo. Trong đó có những vì Bồ tát tương lai, vị Phật tương lai. Chúng ta không biết được trong chúng sanh ai sẽ thành Phật. Cho nên khi bỏ $2000 mà đào giếng chỉ nghĩ một chuyện là không có đại ca nào đi ngang đây mà không dùng cái giếng này. Vậy thì quả báo của $2000 này là không thể nghĩ bàn. Trong khi đó mình bỏ ra $50,000 đãi mấy chục người ăn yến sào, bào ngư, chỉ vài chục mâm nhậu là hết, và không đi đến đâu hết. Thì so với $2000 đào giếng kia là không thể nghĩ bàn.
Trích bài giảng Căn Bản Giáo Lý A Tỳ Đàm của sư Giác Nguyên
Kalama xin tri ân bạn mslenhung ghi chép
Giác Nguyên - Pháp
Giác Nguyên - Pháp
Mình không thể nào trông mong người ta giúp mình mà mình cứ ngồi khoanh tay. Ví dụ như thuốc bơm vào chữa trị cho bệnh nhân, thì cơ thể bệnh nhân phải có khả năng tiếp nhận ra sao thì thuốc đó mới có hiệu quả. Có trường hợp thuốc đưa vô, cơ thể nó phản ứng chứ không có nhận. Trường hợp đó chỉ có chết thôi. Thuốc là để giúp cho cơ thể bệnh nhân hết bệnh nhưng cơ thể phải tương ứng mới nhận được. Bác sĩ có giỏi bằng trời, thuốc hay bằng trời mà không có sự hợp tác của bệnh nhân thì thầy và thuốc đều không thể làm việc được.
Cách đây mấy năm tôi có đi thăm một bà cụ 103 tuổi, người Hoa, bà bị bệnh nặng. Khi con cháu bà đưa tôi về thăm bà, bà lén khoe với tôi một chuyện. Bà lấy tay che môi, bà nói nhỏ nhỏ: “Tao mới giấu thêm 6 viên thuốc nữa”. Bà mới giở cái nệm ra, ở dưới là một bụm mấy viên thuốc. Bà mới lắc đầu trề môi: “Tụi nó muốn giết tao đâu có dễ”. Coi như y tá đưa thuốc nhiêu là bà giấu hết. Vì bà nghĩ là tụi nó muốn giết bà. Mà y tá hơi hờ hững không để ý. Khi tôi vô bà kể mà mặt bà hiển hách chiến công lắm. Nghĩ sao đi giấu mà còn khoe nữa. Tưởng vậy là hay. Giờ thì bả chết rồi. Giấu thế sao mà sống nỗi.
Ở đây cũng vậy, dầu thầy hay cách mấy mà người bệnh không hợp tác, thuốc hay cách mấy mà không hợp tác, thì thua. Cho nên Tây có câu “Chúa chỉ giúp người nào biết tự cứu” *. Tôi kể câu chuyện lũ lụt các vị nhớ không? Giáo dân đi ngang nhà thờ nói: "Cha ơi, lụt tới rồi, Cha lên xe tụi con chở đi!" Cha nói: "Chúa không bỏ cha." Lát sau, nước tới rún, giáo dân đi xuồng tới, "Cha ơi, đi với con." Ông vẫn lắc đầu, "Chúa không bỏ cha." Lát sau nước đến ngực, trực thăng tới đòi đem ông đi, cảnh sát tới đòi mang ông đi, ông vẫn kêu “Không, chúa không bỏ cha”. Mười lăm phút sau ông về với Chúa. Mắt mờ lệ nhìn chúa, ông hỏi: "Vì sao chúa bỏ con?" Chúa trả lời: "Ta đã điều nào ca nô, nào trực thăng, cảnh sát mà con đều lắc đầu, thì ta giúp con kiểu nào đây? Con còn kêu trời nào nữa?"
Câu chuyện đó tuyệt đối không phải chuyện đùa. Câu chuyện đó cũng không phải là câu chuyện Chúa, mà là câu chuyện chùa. Bởi vì chùa cũng y chang như vậy. Không có phật nào độ được người nào không hợp tác.
Phật trí vô biên,
Phật lực vô cùng,
Phật tâm vô lượng,
Không độ được người vô duyên.
Nhớ nha! Bởi vì nếu các bậc thánh hiền mà độ được cả mấy cái thằng cà chớn, thì bây giờ tụi mình đâu có nằm lủ khủ ở đây.
Trích bài giảng Hỗ Tương, Tương Ưng và Quyền Duyên
Kalama xin tri ân bạn Nguyenhuongbichhue ghi chép.
Nguồn: http://toaikhanh.com/
Giác Nguyên
Có người đến hỏi Đức Thế Tôn :
-Vì đâu mà chúng sanh chết rồi kẻ bị đọa người được đi lên ?
Ngài dạy rằng :
-Chết do có người đi lên hay đi xuống là do hành xử theo chánh pháp và nếp sống hợp đạo. Tức là hành thập thiện. Số đọa là do sự hành xử vô đạo, hành xử trái với chánh pháp.
Thập thiện là gì ? Bố thí, trì giới, Chỉ, Quán, thuyết pháp, thính pháp , phục vụ , hồi hướng , cung kính và điều chỉnh tri kiến. Tôi giảng sơ vì trong room có nhiều người mới “chưa bóc tem “.
𝟏- 𝑩ố 𝒕𝒉í
Là chia sẻ những gì mà mình có cho người khác. Một là bố thí để cầu công đức, hai là bố thí vì thương người. Bà Teresa nói thế này : “Nếu ta không làm được việc lớn thì ta cũng có thể làm được việc nhỏ với một trái tim lớn “.
Hoặc là câu này của tôi “Nếu không làm chuyện lớn thì đừng làm lớn chuyện."
𝟐- 𝑻𝒓ì 𝑮𝒊ớ𝒊
Trì giới cho mình và cho người. Trì giới cho mình là để cầu công đức và để trang nghiêm nội tâm, trì giới cho người là thương người mình không làm và mình nghĩ đến mình. Mình không làm điều đó vì mình sợ tội, vì mình muốn có phước nhưng mà cũng có trường hợp là không làm chuyện đó vì thương chúng sanh nên không nỡ. Cái đó mới khó cho nên Tây có câu “ Ta làm thiện không phải vì người nhận là ai mà bởi vì ta là người nào."
𝟑 & 𝟒- 𝑪𝒉ỉ-𝑸𝒖á𝒏 𝑺𝒂𝒎𝒂𝒕𝒉𝒂 𝒗à 𝑽𝒊𝒑𝒂𝒔𝒔𝒂𝒏𝒂
Có nghĩa là tập trung tư tưởng cũng là tu. Sống chánh niệm trong từng khoảnh khắc một cách linh hoạt, kiểu chánh niệm cũng là tu. Chỉ riêng Chỉ Quán này nói cũng mấy chục năm. Ở đây tôi chỉ nói vắn tắt vậy thôi.
𝟓-𝑪𝒖𝒏𝒈 𝒌í𝒏𝒉
Từ khi sanh ra đến giờ có lúc mình làm con chó, con heo, làm con người, lúc nào cũng coi bản thân mình là quan trọng. Nhưng mà khi mình là con người, mình khác con thú ở chỗ là mình phải biết ở dưới nhìn lên, ở trên nhìn xuống. Ở trên nhìn xuống thì yêu thương bao dung, ở dưới nhìn lên để tôn kính và học hỏi. Sống mà không biết cúi đầu thì đời đời không ai cúi đầu trước mặt mình hết, sống mà không dám mất thì đời đời sẽ không được, kẻ nào dám mất thì kẻ ấy mới có lúc họ được. Mình khiêm tốn không phải là vì mình muốn đời sau sanh ra mình được người ta cúi đầu, nhưng mà chuyện đầu tiên mình khiêm tốn, biết cung kính người khác chỉ vì một lý do mình nghĩ mình chỉ là một đống rác thì lấy cái lý do gì mà mình không tôn kính người khác. Đó là chuyện thứ nhất. Chuyện thứ hai mình nghĩ tại sao mình phải tôn kính người khác là bởi vì mình nghĩ trên đời này ai cũng có cái thiện. Hạnh phúc mà người coi mình là con số không nó lớn lắm. Có cô Phật tử hỏi tôi “ tại sao quí thầy gặp nhau mà quí thầy có thể quỳ xuống lạy nhau một cách dễ dàng như vậy “, Cô rất ngạc nhiên bởi vì ngày xưa cô là một gia đình danh gia vọng tộc. Tôi nói :”tại cô chưa có thử nên cô chưa biết, cái cảm giác mà hạ mình trước người mình quý mến nó hạnh phúc lắm.” Phúc thay cho kẻ nào tìm được đối tượng trong đời để mình tôn kính, bất hạnh thay cho kẻ nào trên đời này không tìm ra lý do để mà cúi đầu. Đó là hạnh tu rất là xuất sắc.
𝟔- 𝑷𝒉ụ𝒄 𝑽ụ
Là mình phải động tay động chân để mà giúp đỡ người khác dù ít dù nhiều, chứ còn sống mà chỉ biết có mình thì khó lắm. Tôi nhớ câu chuyện có lần đó trong một lớp học bắt đầu buổi giảng, cô giáo kêu cả lớp đứng lên để mà vinh danh bạn David hôm nay làm một cử chỉ rất là đẹp là dắt một bà cụ qua đường. Trong lớp nghe cô giáo đề nghị vỗ tay thì các em vỗ tay. Có em nhìn ngưỡng mộ, có em lén nhìn ghen tị bạn David. Hôm sau bắt đầu buổi học thì hơn nửa lớp đứng lên và nói “Xin cô cũng cho chúng em một tràng pháo tay, vì hôm nay chúng em cũng muốn nói là chúng em vừa đưa một bà cụ qua đường.”
Cô giáo hỏi “Một bà cụ mà đến mười em đưa qua đường là sao ?” Các em trả lời “Vì bà không muốn qua, nhưng mà tụi em nhớ lời cô là David đưa một bà cụ qua đường đáng được vỗ tay, cho nên hôm nay tụi em hè nhau đưa bà qua đường mặc dù bà không thích, nhưng cuối cùng tụi em tìm cách cũng đưa bà qua được.” Cô giáo kêu “trời, mấy em hiểu không, đưa người qua đường đó là một điều tốt, nhưng khi nào người ta cần, còn đằng này mấy em đè người ta xuống, khiêng người ta đi thì không đúng.”
Phục vụ có nghĩa là mình bỏ ra chút ít thời gian công sức để mà hỗ trợ nhu cầu công việc. Cho là một nghệ thuật, giúp đỡ người cũng là một nghệ thuật, khen ngợi cũng là một nghệ thuật . Đó cũng là một công đức.
𝟕- 𝑻𝒉𝒖𝒚ế𝒕 𝑷𝒉á𝒑
Là mình chia sẻ về đạo cho người khác. Trong kinh Tăng Chi Phật dạy “Ơn cha nghĩa mẹ Này các Tỳ Kheo, ta cho rằng không cách chi mà có thể dùng các phương tiện vật chất mà đền đáp. Này các Tỳ Kheo ta nói rằng dầu cho một người bên vai trái cõng cha bên phải cõng mẹ đi suốt trái đất một trăm năm để cho cha mẹ tha hồ tiểu tiện trên người của mình thì ta nói rằng một trăm năm khổ nhọc như vậy vẫn chưa đủ để đền đáp hết ơn đó được, vì tấm lòng của cha mẹ đối với con không thể cân đong đo đếm được. Tuy nhiên, ta nói rằng một người mà hướng dẫn cha mẹ vào chánh pháp, khiến cho cha mẹ có niềm tin, biết bố thí, biết giới hạnh, thì ta cho rằng sự hướng dẫn đó đủ để đáp đền được công ơn trời biển với cha mẹ “. Điều đó cho thấy rằng thuyết pháp quan trọng lắm, nó chia sẻ nguồn sáng cho người khác.Trên đời có cái gì khổ bằng mình mù hoặc là mình có mắt mà mình sống trong bóng tối, không biết đường đâu mà lần, bỗng nhiên có một khe hở ánh sáng nó len vào, có một tia đèn pin nó quét ngang thì sung sướng biết dường nào. Cho nên thuyết pháp là hiến tặng cho đời một nguồn sáng, giúp cho người ta có đường lối suy tư và hành động. Đó là công đức vô lượng vô biên.
𝟖- 𝑻𝒉í𝒏𝒉 𝑷𝒉á𝒑
Không phải mình ngồi mình nghe một cách tiêu cực thụ động, mà đằng này mình biết lắng nghe, vì mình là ao tù nước đọng. Nếu mà một cái ao mà nước không ra không vào thì chỉ cần chờ chiếc lá rụng hoặc là thú chết nó lọt xuống dưới là nó thúi cả làng. Nhưng mà một cái ao nếu mà có nước ra nước vào thì nó trong lắm, nó đẹp, sạch và hữu dụng. Thì một cái não trạng của chúng ta nó cũng phải thường xuyên được nước ra nước vào, phải có lắng nghe, học hỏi, chỉnh sửa thì mới khá được. Nghe pháp cũng là một công đức, vì càng nghe mình càng khá hơn. Trong kinh có nói nghe pháp có nhiều mục đích:
Nghe để phá nghi, nghe để giải quyết những điểm thắc mắc nào đó, nghe để biết thêm nhiều điều chưa biết, nghe để củng cố những điều mình đã biết, nghe để mình sống lại những điều mình vừa mới được nghe. Thí dụ như ngài Xá Lợi Phất, ngài sẵn sàng ngồi xuống để nghe chú đệ tử sa di 7 tuổi thuyết pháp, không phải ngài nghe để ngài phá nghi, cũng không phải nghe để biết thêm điều chưa biết, cũng không phải nghe để củng cố điều đã biết, mà ngài nghe để ngài sống lại những điều ngài đang nghe. Khi ngài đang nghe, mà vị đó nói Niệm Giác Chi, Cần Giác Chi, là ngài hỷ lạc toàn thân. Cho nên nghe pháp đến cả ngài Xá Lợi Phất mà ngài còn thích nghe pháp như vậy. Đức Thế Tôn có nhiều lần bệnh, ngài nói với ngài Mục Kiền Liên và chư tăng “ Như Lai đang bệnh, không có an lạc về thân, hãy đọc cho Như Lai nghe một đoạn về Thất Giác Chi. Chư Tăng thưa “ Bạch Đức Thế Tôn, đây là Thất Giác Chi đã được Thế Tôn chứng đắc và tuyên thuyết thế nào là 7 : Niệm Giác Chi, Trạch Giác Chi, Cần Giác Chi, Hỷ Giác Chi, Định Giác Chi, Tịnh Giác Chi và Xả Giác Chi.”
Khi Thế Tôn nghe chư tăng đọc lại những điều mà Ngài đã giảng, Ngài bèn hoan hỷ và hết bệnh. Có thể trong room này không tin, các vị nghĩ là Phật bị bệnh mà cũng cần tụng kinh ?! Không phải ! Ngài nghe để Ngài sống lại với cái mà ngài đang nghe. Ngày nay mình không hiểu ý nghĩa của chuyện đó, mình cứ tưởng quanh năm sống không ra gì, rồi tới lúc bệnh thỉnh tăng ni về tụng cầu an cầu siêu, thì phải nói rằng đó là hiểu lầm. Trong kinh Mi Tiên vấn đáp có ghi một buổi cầu an mà có kết quả : 1/là người tụng phải là người tập trung tư tưởng gởi hết tâm tư vào lời tụng của mình, chứ còn miệng ê a mà lòng đi đâu, phiêu bạt gởi gió theo mây ngàn bay thì coi như nó không linh, 2/lòng người tụng kinh phải khắn khít. Người mà được tụng kinh phải có cái tâm đón nhận, chứ còn lúc đó bị phiền não tham, sân, si chi phối thì cũng không được. 3/là người đó không bị trọng nghiệp. Trọng nghiệp là nghiệp quá khứ quá nặng. Nói theo VN là bệnh căn, bệnh quả, nghiệp chướng kiếp trước. Ngay cả vị Chánh Đẳng Chánh Giác cũng phải bó tay. Ngài không cứu mình được vì đó là bệnh nghiệp. Thí dụ như bệnh ung thư, sơ gan cổ trướng, thầy chạy, bác sĩ chê. Nghiệp nhỏ, nghiệp nhẹ như là thời tiết, trúng gió, trúng sương, thực phẩm, tai nạn, thì cái đó còn chữa được. Bệnh là do nhân hiện tại. Chứ còn đã là nghiệp nặng thì không né kịp phải chịu thôi.
𝟗- 𝑯ồ𝒊 𝑯ướ𝒏𝒈
Là tấm lòng của người hành thiện đối với vô lượng chúng sanh khác. Ta biết rằng, có trong tay một món ăn thì ta phải sẵn lòng chia sẻ cho người khác. Đó là vật thí và tài thí. Nhưng mà ta biết rằng ta đang có một công đức lớn và có vô lượng chúng sanh đang hướng về ta để cầu công đức. Họ muốn lắm nhưng mà không có điều kiện để làm, họ đang chầu chực để họ chờ mình nhắc tới họ. Khi mình nghĩ tới họ mình phát đại bi tâm, bèn hồi hướng đến vô lượng chúng sanh không phân biệt biên giới thì công đức đó chẳng thể nghĩ bàn. Các vị có biết rằng có biết bao nhiêu người trong chúng ta, khi sống làm nghiệp này nghiệp kia, nặng thì đi địa ngục bàng sanh, súc sanh, có người sanh làm A-tu-la, ngạ quỷ.
Ngạ Qủy có hai trường hợp:
1) không thể nhận được phước hồi hướng, dù có hồi hướng cỡ nào đi nữa cũng phải sống cho hết cái tuổi thọ để trả nghiệp.
2) Là loại ngạ quỷ mà có thể nhận được đồ cúng hoặc phước hồi hướng. Rất là tội nghiệp khi chết mà bị lọt vô đây. Trong kinh nói có những kẻ hàng ngàn năm, hàng triệu năm, lang thang khắp đầu đường ghềnh cuối bể mà cứ thấy nước là nhào tới thì nước khô queo. Còn trong mắt người ta thì dòng nước nó vẫn cuồn cuộn, lăn tăn bình thường. Riêng với ngạ quỷ thì nó khô queo, còn không thì nó thành lửa cháy rần rần giống như cái suối dầu lửa hoặc là nó thành nguyên một dòng suối máu mủ với nước vàng tanh tưởi, nước cống đen ngờm tanh rình suốt hàng ngàn năm như vậy. Cho nên chỉ cần nghe ở đâu mà động dao động thớt, có mùi nhan khói tụng niệm hồi hướng là nó mừng lắm, nó nhào tới. Cho nên người ta đâu có biết, chỉ hồi hướng cho thân nhân gia đình, ba mẹ, ông bà của họ.
Cho nên nhớ tốt nhất là hồi hướng cho vô lượng chúng sanh vì hai lẽ:
1) Chúng sanh nào cũng đáng thương.
2) Khó mà tìm ra được một chúng sanh nào chưa từng là thân quyến của mình. Tất thảy trong đời này đều nằm trong hai hạng người : Người thiện, người hạnh phúc thì nằm trong nhóm dễ thương, người ác, người khổ thì trong nhóm đáng thương. Trong đời này không có ai để mình ghét. Trong vô lượng vũ trụ thánh hiền, nam nữ, đực, cái, trống, mái đều nằm trong hai hạng người dễ thương và đáng thương. Đây là lý do tại sao mà chúng ta phải hồi hướng. Hôm nay chúng ta đối với người khác ra sao, thì mai này đời sau kiếp khác cũng có kẻ hành động như vậy với ta. Lăn đùng ra chết, có lúc nhận được, lúc không nhận được nhưng mà có còn hơn không. Chứ còn lúc nào mình cũng ba tôi, mẹ tôi, ông bà tôi mà mình quên vô lượng chúng sanh khác thì tội nghiệp lắm quí vị nhe.
𝟏𝟎- Đ𝒊ề𝒖 𝒄𝒉ỉ𝒏𝒉 𝑻𝒓𝒊 𝑲𝒊ế𝒏
Là người thường xuyên liên tục lắng nghe học hỏi xem chỗ biết của mình đúng hay sai, nó tới chưa, đủ sâu chưa, đủ rộng chưa, chính xác chưa, phải thường xuyên như vậy. Phúc thay cho kẻ nào thường xuyên lắng nghe học hỏi mà biết nghi ngờ cái biết của mình, luôn luôn có khả năng xét lại. Bất hạnh thay cho kẻ nào biết ba mớ và bèn cho đó là chân lý vĩnh cữu hằng số bất biến, Điều đó vô cùng bất hạnh.
Trong đời tu của tôi, tôi cũng gặp cả hai hạng người này. Biết ba mớ bèn cho đó là tinh hoa của vũ trụ, mình là cái rốn của càn khôn. Quí vị tưởng tượng một vấn đề giáo lý, Ngài A Nan là đệ nhất đa văn, Ngài là Sơ quả không cách nào bằng một vị A-la-hán vô danh. Các vị A-la-hán vô danh hay là có tiếng cũng không làm sao mà bì được cái biết của ngài Xá Lợi Phất. Cũng vấn đề đó, ngài Xá Lợi Phất làm sao hiểu hơn Đức Phật. Và điều này cho thấy rằng mỗi vấn đề giáo lý đều có nhiều tầng lớp nhận thức khác nhau về độ sâu lẫn chiều rộng. Cho nên chúng ta có thuộc lòng tam tạng đi nữa thì vẫn phải lắng nghe người khác, là vì cái chỗ hiểu nào của mình cũng cần phải có chỗ để bổ sung, bổ khuyết và điền khuyết. Nhớ nhe ! Chắc chắn một ngàn phần trăm là như vậy. Tôi thí dụ sợi tóc, quí vị đừng có nói với tôi sợi tóc nó nhỏ thì những gì mà các vị biết về sợi tóc này hoàn toàn đầy đủ không cần biết thêm nữa. Tôi xin chia buồn với ai mà có cái nhận thức và suy tư như vậy. Cho là sợi tóc nó là nhỏ, còn cái biết của ta là một tiến sĩ hoá học, một tiến sĩ vật lý ta đã biết hoàn toàn mọi sự về sợi tóc là sai ! Bởi vì nó nhiều chuyện trong sợi tóc mà một ngàn năm nữa chúng ta cũng chưa biết hết về sợi tóc đâu quí vị. Nhiều lắm thì chúng ta chỉ biết lơ mơ như là “tóc mai sợi vắn sợi dài, lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm “ hay là “Tóc em từng sợi nhỏ, rớt xuống đời làm sóng lêng đênh”. Biết lơ mơ kiểu đó không có đủ xài nhe !
Người nào khi còn sống mà hành thập thiện, sống có hành động tư duy theo mười cái này thì khi chết có cái cơ đi lên. Tôi xài chữ rất là chính xác là chữ CƠ tức là có hy vọng, chứ không có chắc lắm là vì cái nợ xấu mình nhiều quá. Trong chánh tạng kinh Tăng Chi Đức Phật dạy “ Này các Tỳ Kheo ai cho rằng kẻ làm thiện chết rồi chắc chắn sanh thiên, ta nói rằng đó là tà kiến. Ai nói rằng kẻ làm ác chết rồi chắc chắn phải bị đọa, ta cho rằng đó là tà kiến."
Là vì sao ? Mình mới nghe qua mình không thấy ghê, nhưng ngẫm lại ghê thiệt . Là khi mình nói một người làm thiện chắc chắn sanh thiên như vậy là mình đã quên mấy chục triệu tỷ ức kiếp luân hồi về trước rồi. Các vị tưởng tượng cơ hội làm lành làm thiện và cơ hội làm ác cái nào nhiều hơn ? Rồi bản năng thiện và bản năng ác cái nào mạnh hơn, rồi bạn ác, thầy xấu nhiều hơn là thầy bạn đàng hoàng. Cho nên trong vô số tỷ triệu ức kiếp luân hồi về trước, nghiệp ác mình nó có đến một tỷ luôn, còn cái chuyện tu hành của mình thì nó lai rai ầu ơ ví dầu. Nói ra không phải cho các vị run xuống tinh thần nhưng đó là sự thật.
Sư Giác Nguyên
(Chép lại bài giảng của Sư)
Nguồn: fb Simsapa
Giác Nguyên - hot - Pháp
Giác Nguyên
Bên Bắc Truyền họ dạy cho người ta là lúc sống gặp tai nạn thì niệm Quan Âm và lúc chết thì niệm U Minh Giáo Chủ - Địa Tạng Vương, hoặc là niệm Tây Phương tiếp dẫn A Di Đà Phật.
Tôi xin hỏi các vị vậy chứ mình gặp nạn mình cầu Quan Âm mình có được thoát nạn như ý không? Nếu mà nói Quan Âm phù hộ, như vậy cả hai đội bóng nó cầu Quan Âm phù hộ thì Quan Âm phù hộ đội nào? Ông Phát một đội, tui cũng một đội, mà đứa nào cũng cầu Quan Âm phù hộ, "mẹ hiền phù hộ cho con", thì Quan Âm binh ai? Nó hơi kẹt. Thứ hai, Nếu nói rằng ai mà chí thành thì Bồ Tát phù hộ thì có dám chắc là chí thành là Bồ Tát phù hộ không? Bởi vì theo kinh điển nguyên thủy, nếu cái phước nghiệp có thể giúp mình vượt qua vụ này thì mình không cần ai phù hộ, tự nó sẽ qua. Khi mình cầm nguyên nồi nước sôi hất vô ổ kiến thế nào cũng có con sống con chết, đúng không ? Cầm đạn mà lia vô đám đông thế nào cũng có đứa sống đứa chết, đúng không? Thí dụ như vừa rồi có vụ bắn giết trong cái đại nhạc hội đó, nhớ không?
Chúng sanh có nghiệp hộ trì
dữ lành tốt xấu sở y của mình.
Cho nên, nếu mà nói Bồ Tát có thể hộ trì cho mình thì vậy chứ những đứa có phước và không có phước Bồ Tát phù hộ hết, có phải vậy không? Không.
Vậy cuối cùng quy lại là do cái nghiệp.
Nếu nói Bồ Tát Quán Âm là Đại Bi vậy xin hỏi mấy cha Bồ Tát khác không có Đại Bi sao? Có hiểu tôi nói gì không? Muốn thành Phật thì phải có Đại Bi. Theo tôi biết thì không có Phật nào thiếu Đại Bi mà được thành Phật hết. Không bao giờ có một vị Bồ Tát nào thiếu lòng đại bi mà leo lên ngồi cái tòa này hết. Đại Bi là gì? Giúp được thì giúp, bất kể bản thân. Đó mới là Đại Bi.
Còn nhớ 5 hạng người mà bữa hổm mình học không?
Hạng thứ nhất, chỉ nghĩ đến bản thân bất kể người khác.
Hạng thứ hai, chỉ quan tâm đến người nào tốt với mình.
Hạng thứ ba, thương được kẻ không ân không oán, người dưng nước lã.
Hạng thứ tư, thương được bạn của kẻ thù.
Hạng thứ năm, thương được kẻ thù.
Thì Đại Bi phải là hạng thứ năm trong vô sô kiếp.
Trong bài học này chúng ta cùng nhau ngồi lại để phân tích, chúng ta không có cái ý bôi bác. Vấn đề không phải bôi bác ai. Chỉ vì mình hiểu sai chứ không phải vậy. Cái tín ngưỡng Quan Âm tôi phải nói là rất hay. Nhưng mà do mình hiểu sai cho nên làm hư đi hình ảnh Quan Âm. Hình ảnh Quan Âm phải nên hiểu như thế này: Thờ Quan Âm là thờ cái "symbol" (biểu tượng) của cái "kindness" (lòng từ bi), chớ không phải thờ Quan Âm để mà cầu "somebody helps you" (ai đó cứu tôi với). Bởi vì trong kinh nói, cầu nguyện lúc lâm nguy không phải để thoát nạn mà để lòng bình tĩnh lúc lâm nguy.
Và theo các chuyên gia cứu hộ, thì trong bất cứ tai nạn nào, cái tên mà bình tĩnh có khả năng thoát nạn cao hơn cái tên hoảng loạn 30 lần. Ví dụ vừa rồi ở Iran một chiếc máy bay bị trục trặc phải hạ cánh khẩn cấp. Lúc người ta bung cái cửa thoát hiểm, thì mấy bà thay vì người ta tuần tự thứ lớp đi theo hướng dẫn của tiếp viên thì mấy bả chuyện đầu tiên là nhào lên khoang hành lý lôi mấy cái túi LV, Gucci mới mua chưa kịp xài. Mà lúc mà nhào lên lấy hành lý là đã rối. Rồi lấy được xong là cứ đạp người trước mặt để mà chạy ra. Vì vậy mới chết một mớ luôn. Cái chuyện mà lấy hành lý là bậy số một, mà đạp lên nhau là bậy số hai, tổng cộng là bậy toàn tập.
Cho nên trong bất cứ tình huống nào, dầu là trước cái chết không tránh được, thì cái tên bình tĩnh nó hơn cái tên hoảng loạn ở chỗ là nó chết trong bình tĩnh. Giả sử khi mà biết cái vụ này không thể qua được, thì ít ra cái chết trong bình tĩnh hình như cũng tốt hơn cái chết trong hoảng loạn. Chưa kể là khi nó bình tĩnh nó còn cơ hội thoát nạn. Có nhiều người, họ bình tĩnh họ không chỉ thoát nạn mà họ còn có quởn họ giúp được người khác nữa. Còn nhiều người thì khi loạn lên bản thân cứu không được, không tự cứu được thì làm sao có thể cứu người khác? Cho nên ở đây, mình niệm Phật niệm Bồ Tát là để có được sự bình tĩnh lúc lâm nguy - chứ không phải để thoát nạn. Mặc dù, mình cũng phải hiểu ngầm rằng khi có bình tĩnh thì khả năng thoát nạn sẽ cao hơn.
Còn khi anh cứ cầu nguyện được cái này cái kia lỡ mà không được anh có thất vọng không? Nhớ dùm tôi cái này. Chư Phật chỉ độ giúp ta được khi ta có phước duyên thôi. Các Ngài chỉ hà hơi, tiếp sức, trợ lực thôi. Tin tôi đi. Không thể nào nói là thờ "linh lắm". Thì tôi hỏi, nếu như bên Thái Lan có nhiều vị sư cho phật tử cái tượng phật nói "linh lắm, linh lắm". Đem thờ là phát tài. Nếu Phật tử nó bình tĩnh hỏi lại: "Sao sư không để lại xài?" Thì khi ổng nói phát mà thực ra ổng đưa cho mình là để chờ mình cúng cái bao thơ, hiểu không ? Các vị thấy có kỳ không?
Hoặc có cái này tôi thắc mắc sao Phật tử hiền quá, Đức Phật trong kinh ngài cao một thước tám, tiếng Pali gọi là 18 cái usapha, 1 usapha là 1 tấc mà 18 cái là 1 mét 8. Khi Ngài tịch rồi, thiêu ngài xá lợi tối đa là 5kg. Tối đa 5kg là nhiều lắm, chứ một người mét tám mà làm gì được 5kg, nhưng mà tôi tặng không thêm mấy kg nữa đó. Thì tôi hỏi, 5kg đó mà đem chia ra thì làm gì tới tay mấy người tào lao như mình? Trong kinh nói, lúc chia xá lợi là Đế Thích dòm chăm bẵm. Lúc cái ông chia xá lợi ổng thấy cái răng được quá, ổng lấy cái răng ổng nhét vào tóc, tóc ổng dài mà, rồi ổng chia tiếp. Đức Đế Thích thấy vậy, mới lấy cái răng của ổng đem đi mất. Ông kia chia xong rờ tóc thấy mất cái răng. Điều đó cho thấy rằng, Đế Thích vàng ngọc không màng nhưng mà rất là quan tâm xá lợi của Đức Phật, bởi vì đó là tinh hoa của 20 A-tăng-kỳ. Có hiểu không? Chưa hết.
Phạm Thiên thượng giới một tòa,
xương vai bên tả cùng là tam y,
đền thờ cao vợi cực kỳ
chúng con lễ bái thiên uy tháp này"
Phạm Thiên là mấy ông mà ăn rồi cứ ở vậy không à, hít thở để cười như Làng Mai. Vậy mà người ta còn làm một cái tháp "Phạm Thiên thượng giới một tòa" để "Xương vai bên tả cùng là tam y." Phạm Thiên còn phải thờ một miếng xương vai. Đức Phật có hai vai, một mảnh bên vai trái với bộ tam y của Đức Phật Phạm Thiên còn thờ. Điều đó cho thấy rằng, Phạm Thiên Đế Thích không màng tiền bạc, đúng không? Và họ lại rất quan tâm tới xá lợi. Vậy thì em xin hỏi các bố, 5kg ấy họ có để yên cho mình giữ không ? Tu hành cái kiểu cà chớn của mình thì mình "có cửa" không? Nói kiểu Việt Nam của mình là "có cửa" không? Năm kí lô mà chia cho vô lượng vũ trụ thì các vị nghĩ coi các vị có thể nào có được không? Đó là cái vô lý thứ nhất.
Cái vô lý thứ hai, nếu đúng là xương của Phật, tăng ni nào lại dám cầm tặng cho thí chủ? Tôi xin các vị ngồi yên lại suy nghĩ coi. Tôi không có ý bôi bác. Nếu cái ông sư đó mà ổng tin Phật, ổng tin Phật như là tôi tin, tức là tin qua nền tảng giáo lý, thì ổng nên ngồi nghĩ kỹ lại đi. Cái mảnh gì đó, mảnh "something", tôi không biết kêu là mảnh gì nữa, cái mảnh mà ổng đưa người ta, có phải xá lợi không? Nếu mà đúng là xương của Đức Thích Ca Mâu Ni, tứ sanh từ phụ, thiên nhân chi đạo sư, nếu ổng biết vậy, theo quý vị, vàng tấn có đổi được cái miếng đó không? Quý vị có hiểu tôi nói gì không? Vàng tấn chứ tôi không nói vàng ký. Vàng tấn, nghĩa là 26 cây 6 lượng là được 1kg, mà tôi cho cả tấn, thì liệu có đổi được mảnh nhỏ đó không? Không thể nào. Vậy mà mấy bố gặp ai mấy bố cũng cho một cái tháp.
Ngộ lắm. Ở Băng Cốc có cái tiệm chuyên bán xá lợi. Đặc biệt trong đó cung cấp xá lợi của những vị mà vốn không để lại xá lợi! Ví dụ như Ngài Rahula, Ngài tịch trên cõi trời. Không biết họ liên lạc email điện thoại tin nhắn gì không biết mà làm sao Ngài tịch trên đó mà "ship" được xá lợi về đây cho bán. Rồi thí dụ thứ hai là ngài Bakula. Ngài trước khi tịch đã chú nguyện: "Khi ta sống không có học trò, không đệ tử, khi ta chết ta cũng không muốn để lại xá lợi cho đời." Ngài chú nguyện xong là Ngài nhập thiền Ngài tịch, thì khi Ngài tắt thở xong tự có lửa thiêu, thiêu nát xá lợi không để lại dấu vết, tan mất như một làn khói. Vậy mà bên Thái Lan vẫn có xá lợi của Ngài. Họ dò tìm trong không khí thu gom được hay sao?
Rồi tới xá lợi Tây Tạng. Tây Tạng hay tổ chức những cuộc triển lãm xá lợi gì đâu mà tròn tròn đủ thứ màu. Bà con vô thấy là cứ xì xụp lạy. Tôi không hiểu được. Cái đầu này là để đội nón hay để suy nghĩ? Đa phần dùng cái này là để đội nón thôi. Các vị có thấy xá lợi đó hay không? Có thấy Tây Tạng mà họ có những triển lãm không? Các vị coi thấy mấy viên tròn tròn mà đủ màu đó không? Rồi người ta quỳ xuống người ta lấy nguyên cái đó để trên đầu mà lạy - mà trời ơi, nhiều nhất là mấy chủ tiệm nail! Chắc vài bữa nữa tui cũng làm vài ký đem về Kalama quá. Khủng khiếp. Chuyện như vậy mà họ vẫn tin được.
Cái đó là chuyện đáng để mình suy nghĩ.
Các vị nghĩ coi, Đức Phật khả kính như vậy mà ngài mất rồi để lại, tôi cho tối đa, 5kg thì làm sao mà tới tay mình? Mà trong kinh ghi rõ, Phạm Thiên, Đế Thích mà còn đem về từng mảnh để thờ, thì hãy tự hỏi 5kg đó chia làm sao mà tới được tay mình? Ngày xưa các ngài A-la-hán còn thì người ta còn nể mặt. Ngày nay tu kiểu như mình thì chư thiên họ liệu có để cho mình không? Các vị có biết không? Kích thước chiều cao của mình, trọng lượng của mình là bao nhiêu, nhà mình ở là bao nhiêu, trong mắt chư thiên mình như là một bầy mối vậy đó. Mà họ thờ Phật, họ rất kính Phật, họ có đành lòng họ thấy xá lợi của Thế Tôn nằm nguyên trong cái ổ mối không? Chỉ trừ ra các vị A-la–hán còn. Khi các vị A-la–hán còn thì Phạm Thiên, Chư Thiên họ nhìn cái trú xứ của A-la–hán họ không thấy thấp bé như trú xứ bình thường. Ở đâu có người đức độ ở thì Phạm Thiên, Chư Thiên họ nhìn chỗ ở đó nó không có dơ bẩn và thấp bé như chỗ ở của người tầm thường. Mặc dù trong mắt người bình thường thì nó rất bình thường, nhưng trong mắt Chư thiên Phạm Thiên thì chỗ đó nó không thấp bé mà nó là núi. Nó là núi cao, nó là đại dương, là chỗ ở của La hán. Trong mắt của Chư Thiên, Phạm Thiên nó khả kính như vậy. Nhưng một khi không còn A-la-hán thì chỗ đó đối với Chư Thiên Phạm Thiên là một cái bãi rác, một cái vũng sình, một cái bụi rậm, một bụi cỏ dại thôi. Thử hỏi xá lợi của Đức Phật mà nằm một cái chỗ bụi rậm như vậy thì Chư Thiên họ có đành lòng không? Họ đi kiếm từng viên để họ thờ, mà bây giờ họ gặp xá lợi của Thế Tôn trong đám bụi cỏ đó? Không, tôi không tin. Với những gì tôi đọc tôi hiểu về Đức Phật, chuyện đó là không có. Vậy mà hôm nay có nhiều người hì hục đi tin cái đó. Tôi biết tôi nói cái này rất là dễ va chạm với những vị đang tuyên truyền về xá lợi, đang kêu gọi xây tháp. Riêng tôi, tôi không tin chuyện đó - và dĩ nhiên tôi chịu trách nhiệm với những gì tôi đang nói.
Tôi nói để mình thấy có những thứ negative và positive. Đó là xá lợi có hai: Xá lợi sắc thân và Xá lợi pháp thân. Xá lợi sắc thân là xương, di cốt của Đức Phật, của A-la-hán. Còn cái xá lợi Pháp thân chính là lời dạy, là kinh điển. Mà đa phần bà con mình chỉ thích xá lợi sắc thân. Vì sao? Vì sờ được, thấy được, và không làm mình nhức đầu, chỉ cần cắm đầu lạy là ... "phước báu mênh mông". Còn cái xá lợi pháp thân thì nhức đầu quá. "Lâu lâu ổng về ổng đem cho một mớ mà ngồi rang chiên tùm lum nhức đầu quá."
Trích bài giảng Duyên Hệ và Tu Hành của sư Giác Nguyên
Kalama xin tri ân bạn vuihtv ghi chép
Giác Nguyên
Thầy Bổn sư của tôi là thủ khoa A-tỳ-đàm. Thầy tịch năm 1984 lúc đó tôi chỉ mới 15 tuổi. Thầy có một cái độc chiêu: thầy dạy học hay dịch kinh cả đời chỉ trên cái ghế bố. Thức ăn của thầy gồm có 4 món như sau: bánh tráng, dưa hấu, đu đủ, miến. Suốt đời chỉ ăn mấy cái đó thôi, thức ăn khác ăn không được. Điều đặc biệt là ngài tịch năm 71 tuổi, răng trắng như ngọc, đều như bắp, răng đẹp cực kỳ, lạ há. Bàn chải đánh răng thì ngài phải xài loại cứng nhất. Cái mà tôi muốn nói là cái này, thầy đang đọc bài mà ngủ quên giựt mình thức dậy ngài vẫn tiếp tục đọc tiếp. Ngài ngủ thiệt, ngủ buông bút, rớt sách. Đệ tử để yên chứ đâu dám kêu, lát sau cây bút rớt cái độp, giựt mình lượm lên để lên bàn, đọc tiếp. Nghĩa là nãy giờ không phải stop mà là pause.
Quí vị vô Google tìm “Hòa thượng Tịnh Sự”, trong đó sách của ngài là một tỷ. Ngài truyền Sadi giới cho tôi. Ngài là thủ khoa đầu tiên duy nhất ở Việt Nam (cho tới giờ). Cuộc đời ngài có cái huyền thoại đó là ngày xưa ngài tu bên Bắc Tông. Ngài là giáo thọ có đệ tử cả ngàn ở chùa Bửu Hưng, Sa Đéc. Đến năm 36 tuổi, có cái đêm đó ngài đọc tạng luật của Hán Tạng thấy trong đó hơi kỳ kỳ. Ngài nghĩ không có lý nào một vị Chánh Đẳng Chánh Giác mà trục trặc như thế này, chắc cái này là của đời sau quá. Tự nhiên ngài thấy nó kỳ kỳ. Ngài nghĩ rất đơn giản, mình đang ở Bắc, Nam truyền mình không rành, thôi thì mình thử lục bên Nam truyền rồi combine hai thứ lại.
Tôi biết có nhiều người bị bế tắc bên Bắc Tông nhưng không dám qua Nam vì sợ người ta nói tiểu thừa, nhục. Có thật! Họ bị ám ảnh cái đó, nghĩa là họ cứ bị nhồi “tiểu, tiểu, tiểu”. Giống như nhiều cán bộ muốn nghiên cứu thêm nhưng mà sợ cái này là lý luận của tụi tư bản vậy, trong khi mình là “đỉnh cao trí tuệ” tiêu biểu cho tinh hoa loài người mà sao tự nhiên mình đi đọc sách về văn hóa, nghệ thuật, hội họa kiến trúc … của tụi tư bản thì hèn quá. Như bên Hồi Giáo họ bị nhồi riết rồi họ nói trên đời này mà perfect thì chỉ có thánh Allah thôi. Cho nên có cái ông đó dệt tấm thảm quá đẹp, hoàn hảo từng đường kim mũi chỉ, bạn ông nói cả đời chưa từng gặp cái tấm thảm nào hoàn hảo hơn tấm thảm này. Ổng nghe như vậy ổng xanh mặt, bạn về, ổng thò cái kéo cắt một góc hư tấm thảm để nó không perfect nữa, bởi nếu nó perfect thì sẽ là một sự phạm thượng với đức Allah. Có những thứ đức tin lạ quá cỡ thợ mộc như vậy.
Ngài mới mò qua bên Miên, ở chỉ có mấy tháng rồi ngài qua Thái. Lúc đó ngài mới 36 tuổi và trong đầu chỉ có hai thứ tiếng thôi đó là tiếng Hán và tiếng Việt. Rồi ngài xin vô chùa Thái mà rất là khó khăn vì ngôn ngữ bất đồng. Lúc đó có cái chuyện ngài xin giấy thông hành từ Miên qua bên Thái, ông hải quan là người Pháp, lúc đó đang rối rắm về chính trị nên ổng từ chối. Ngài cứ xin hoài nên ổng bực, ổng lấy cái cây thước khẽ ổng gõ đầu ngài. Tây mà, nó coi dân mình là man di lắm. “An-na –mít” mà. Nó gõ vừa xong thì cái đầu nó nhức như bưng, nó ôm cái đầu nó lăn, lăn. Nói theo trong kinh là tổn đức vì giống như là nó đánh nhầm bậc đại nhân. Có cái ông thông sự là người Việt, ổng có biết chút đỉnh, ổng nói: Chết you rồi, you đập nhầm thầy chùa rồi. Đánh nhầm thầy rồi. Thằng Tây nó hỏi tao phải làm sao bây giờ, cái đầu nó nhức quá. Xin lỗi đi, rồi ký giấy cho ổng đi. Ký xong là cái đầu nó tỉnh bơ trở lại. Lạ lắm.
Ngài qua Thái ngài học tiếng Thái. Học với ai? Ai đi qua Thái thì biết, chung quanh chùa con nít Thái, con nít Miên, con nít Lào, con nít Miến, con nít Tích Lan chúng nó coi cái chùa giống như cái đình vậy đó, má nó đem đồ ăn vô chùa, mấy sư ăn xong thì đến phiên tụi nó nhào vô nó ăn. Thanh niên ngoài phố về học đại học mà không có chỗ ăn chỗ ở cũng cứ nhào vô chùa, quét chùa là có cơm ăn. Chung quanh chùa thì người ta bán bánh đúc bánh đa… Ngài học tiếng Thái với mấy thằng nhóc, mấy thằng vô chùa đá banh, bắn bi. Ngài lượm mấy cái thẻ nhang có tiếng Thái, mấy cái miếng giấy gói bánh in, hỏi cái này đọc làm sao. Lúc ngài nói bập bẹ được thì cái lớp A-tỳ-đàm người ta đã khai giảng được 7 tháng rồi, nghĩa là ngài vô trễ bảy tháng mà tiếng Thái của ngài ấm a ấm ớ. Chương trình người ta 7 năm, ngài vô trễ 7 tháng nên ngài chỉ học được 6 năm 5 tháng. Học xong thì ngài đậu thủ khoa, tại Thái, ông thầy của ngài người Myanmar. Vừa học đạo vừa học ngôn ngữ. Bên Mỹ như vậy nhiều lắm, nhiều người VN qua vừa học đạo vừa học tiếng Mỹ. Nhưng thời này mình trau dồi tiếng Anh có điều kiện hơn ngày xưa ngài trau dồi tiếng Thái. Ngài học xong thì theo cái lệ của Miến Điện và Thái Lan là you đắp y xuất gia hay you ghi danh học một cái trường phải có sponsor. Vì nếu không có sponsor lỡ you bệnh thì ai gánh. Bà sponsor này có một cô con gái. Bà thương ngài. Khi ngài đậu thủ khoa xong thì bà vô đặt vấn đề với ngài. Bên Thái Lan người ta thấy chuyện đó bình thường lắm. “Con gái tôi thương you, nếu mà you tu luôn thì tụi tôi sponsor còn nếu không tu thì làm rể. Ngài nói không, tôi qua đây tôi học rồi tôi về xứ mà. Xong rồi ngài bỏ đi và về Việt Nam, rồi bà cũng liên lạc một thời gian bằng thơ qua bưu điện, rồi xong.
Đại khái đó là những cái mà tôi được nghe về ngài. Sẵn mình học A-tỳ-đàm thì mình phải biết ông tổ A-tỳ-đàm của mình chứ.
Sư Giác Nguyên
Lớp A-tỳ-đàm, Dallas 2016
Nguồn: toaikhanh.com





















