Select Menu

hot

Bài đăng nổi bật

TỦ SÁCH PHẬT HỌC DÀNH CHO SMARTPHONE

Trong cuộc sống hiện đại, sách điện từ đang dần thay thế sách giấy. Các tác phẩm Phật học, trong đó có Kinh Phật, cũng không ngoài quy luật ...

Tìm kiếm Blog này

random posts

Ads 180

Ads 180
Bán xe Ford Taurus

Popular Posts

Phật

Tăng

Thần Thông

Thiên Giới

Chùa

Đọa Xứ

Video


Có một lần buổi chiều Ngài Xá Lợi Phất đang ngồi trong hương thất giữa rừng, Ngài nghe tiếng nói bằng thiên nhĩ : “ Hãy cho tôi vào gặp Ngài tôi là mẹ cũ của Ngài kiếp xưa.” 
Đó là tiếng nói của một con ngạ quỷ. Tiếp theo là Ngài nghe tiếng nói của các vị thọ thần hộ pháp, tứ đại hộ pháp của Ngài : “Không, tôn giả đang nhập định, đừng làm phiền tôn giả, ngươi không thích hợp có mặt ở đây đâu.” 
Ngài nghe như vậy lập tức biết liền, Ngài lên tiếng: “Hãy để bà ấy vào, bà ấy là mẹ cũ của ta cách đây năm kiếp, hãy để bà ấy gặp ta “ Khi Ngài lên tiếng như vậy thì vị thọ thần tránh qua một bên. Con ngạ quỷ đó là một xác nữ, gầy ốm xanh xao dị dạng khó nhìn, Ngạ quỷ nói: “Con đói khổ quá, người có thể cứu được con chỉ có mình Ngài thôi. “ 
Ngài nổi tiếng là hạnh tri ân. Trong kinh nói, một ông già hết pin, hết điện cúng cho Ngài một vá cơm về sau đi tu không có ai nhận mà Ngài nhận. Chư tăng hỏi vì sao ai cũng chê mà Ngài nhận, Ngài nói: “Tôi nhận vì hai lý do, thứ nhất tôi thấy ông này trở thành đệ nhất biệt hạnh trong Thanh văn chứ không phải xác phàm. Thứ hai là thời ông còn mạnh khỏe có cúng cho tôi một vá cơm, nhờ vá cơm đó tôi được no một buổi bây giờ đành lòng nào thấy người ta tuổi già không có chỗ dựa nương làm sao tôi làm sao đành lòng.” 
Con quỷ nói : “ Chỉ có Ngài cứu được con “ Ngài trả lời, được rồi ngày mai ta mới giúp được. 
Sáng hôm sau Ngài đi bát, Ngài lấy thực phẩm đem về cúng dường chư tăng. Nên nhớ Ngài không còn gieo nghiệp thiện và nghiệp bất thiện nhưng Ngài vẫn làm việc bố thí bằng tâm Duy tác của vị A-La-Hán, làm không để lại quả báo, nhưng với sự Chú nguyện của Ngài muốn hồi hướng phước bố thí thì chỉ có bố thí mới hồi hướng được. 
Cho nên Ngài đem cái mâm với bình bát thực phẩm về cúng dường cho Phật và chư tăng rồi họ hồi hướng cho người mẹ quá khứ. Và trong vòng 3 giây, kim gió đồng hồ chưa đến giây thứ tư, thì bà lập tức sanh thiên trở lại thành một vị thiên nữ thiên kiều bá mị tuyệt sắc giai nhân hào quang chói lòa. 
Và chưa hết khi Ngài 84 tuổi, xét thấy theo thông lệ chư Phật ba đời, thì đệ nhất Thinh Văn phải Niết-bàn trước bổn sư cho nên Ngài vào lạy Phật xong , rồi Ngài về suy nghĩ, bây giờ Rahula đã tịch trên cõi trời Anna Kondanna đã tịch trong núi sâu với bầy voi rừng, còn ta có một chỗ ta phải về đó là gặp mẹ lần cuối. Mẹ ta là mẹ của bảy vị La-Hán vậy mà giờ này bà vẫn còn tà kiến. Và Ngài thấy rằng bà có duyên đắc Tu Đà Hườn và người độ cho bà phải là Ngài chứ không phải ai khác. 
Thế là trong buổi chiều đó lạy Phật xong Ngài trở về làng xưa. Và mẹ Ngài là một nữ đại gia triệu phú. Sau khi bà sắp xếp chỗ nghỉ đêm cho 500 vị Tỷ Kheo xong bà dọn riêng cái phòng của Ngài Xá Lợi Phất mà bà vẫn để dành đó trong 84 năm qua từ ngày con bà bỏ nhà ra đi. Bà bây giờ đã 120 tuổi. Cứ quét dọn chưng hoa, thay rèm củ kỹ thay nệm rồi thay cái khác, cứ như vậy , bà chờ con 84 năm trời. Bây giờ con 84 tuổi trở về bà vẫn dọn lại cho Ngài căn phòng mà ngày xưa bà sanh Ngài trong phòng đó. 
Chư thiên đế thích Phạm thiên xuống hầu, diện kiến. Trong kinh nói Ngài bị kiết máu, hết bô này đem ra bô khác đem vào. Lúc rạng sáng bà mẹ vào hỏi : “Sao suốt đêm phòng con cứ sáng lòa là sao ? “ Ngài nói: “Phạm Thiên vào hầu “ bà nói: “Trời đất, mẹ thờ Phạm thiên một đời mà sao giờ Phạm thiên xuống hầu con. “ Ngài không nói về Ngài, Ngài chỉ nói : “ Mẹ tưởng tượng đi, Phạm thiên mà xuống hầu tôi thì bậc đạo sư thì còn như thế nào nữa.“
Bà nghe hoan hỉ quá. Ngài thuyết cho bà nghe về Bốn Đế, lập tức bà đắc Tu Đà Hườn. 
Khi đó Ngài quay qua hỏi em ruột là Ngài Cunda: “Bây giờ là canh mấy.”Ngài Cunda thưa: “Dạ canh cuối.” Ngài nói : “Các sư đệ nghe nè, mấy chục năm qua anh em sống chung với nhau, tôi có làm cái gì nói cái gì mà anh em không vui, hãy bỏ quá cho tôi. Bây giờ tôi đi. Và đây là câu nói cuối cùng, các hành là vô thường, ở lại tinh tấn, chớ có dễ ngươi.“ 
Nói xong tôn giả Xá Lợi Phất đệ nhất trí tuệ, người đứng sau bậc đạo sư đã lấy chéo y che mặt mình lại rồi nhập thiền, xuất sơ, nhập nhị xuất nhị, nhập tam xuất tam, nhập tứ, nhiều lượt như vậy và xuất khỏi tứ thiền lần cuối chấm dứt hơi thở và vĩnh viễn ra đi, địa cầu rung động. 
Đó là Ngài Nam mô đại hiếu Xá Lợi Phất là vậy. Bên Bắc Tông thì sửa lại là Mục Kiền Liên. 

Còn ngài Mục Kiền Liên thì sao? Ngài Mục Kiền Liên phải nói là nhân vật số 2 trong thinh văn, nhưng tại sao lúc nảy tôi có ghi một câu rất dễ hiểu lầm đó là chuyện về Ngài Mục Kiền Liên là sao? Mình bất cẩn mình nghe nói gương xấu thì mình coi thường thật ra gương tốt thì người ta bắt chước mà gương xấu là để người ta tránh. 
Tại sao ngài Mục Kiền Liên bị người ta bằm như tương? Vì kiếp xưa Ngài đã có một kiếp tiền thân sợ vợ, Ngài nuôi cha mẹ già mù lòa mà cô vợ tánh tình trời ơi đất hỡi, không chỗ nào xài được. Cứ phải nuôi mẹ chồng nuôi cha chồng mù lòa, nàng khó chịu lắm. Bữa đó, ngài Mục Kiền Liên vắng nhà, cô vợ lấy cơm rải đầy nhà. Ngài Mục Kiền Liên về kêu trời. Cô vợ đổ thừa cho hai ông bà bày biện quăng ném chịu không nỗi, Ngài Mục Kiền Liên nghe như vậy thương cô vợ quá bèn đem cha mẹ vào trong rừng và nói là đi chơi. Vào tới rừng thì Ngài lấy khăn bịt miệng mình lại giả giọng làm ăn cướp hò hét đánh đập hai ông bà. Hai ông bà mù đâu biết gì đâu, bị con đánh hết đòn này đòn khác mà còn nói : “Con chạy đi ba mẹ già rồi chết cũng không sao, con còn trẻ con chạy đi “.
Có chỗ nói là đập hai ông bà chết, có chỗ nói là nghe thương quá đem về nuôi tiếp. Nhưng dầu đem về nuôi tiếp hay là đập cho chết kiểu nào thì cũng là đại trọng nghiệp rồi, vì đó là hai đấng sanh thành. Họ đang sống trong từ vô lượng tâm từ bi với mình mà. 
Cho nên vì tội nghịch thiên bội địa đó Ngài chết rồi bị đọa địa ngục, đời đời sanh ra là cứ bị chết thảm. 
Cuối cùng kiếp chót là đệ nhất thần thông La-Hán vậy mà cũng phải viên tịch kiểu không được đẹp lắm. 

Không hiểu vì đâu mà Bắc tông họ lại thay đổi nội dung, họ lại biến Ngài thành Mục Liên đại hiếu, một vị lục thông mà khi thấy mẹ bị đọa lại đem cơm của loài người đến cho mẹ ăn. Một người học đạo sơ sơ cũng đã biết loài nào ăn thức ăn nấy, làm sao đem cơm của loài người bắt cho Ngạ Quỷ ăn. Cái lạ thứ hai là đã là vị La-Hán mà mẹ không ăn được Ngài bèn khóc. Cái lạ thứ ba không biết cách làm sao để cứu mẹ, bèn chạy về hỏi Phật. Chứ còn bên Nam Tông thì kinh điển nói rất rõ ràng, có nghĩa là vị lục thông thì chuyện đó làm gì không biết. Không biết lý do nào mà họ ém vụ Ngài Xá Lợi Phất là đại trí đại hiếu, họ đẩy ngài xuống hàng ngô nghê ngốc nghếch, còn Ngài Mục Kiền Liên thì họ đẩy trở ngược lại thế đại hiếu Mục Liên. Chỗ này để cho quí vị tự xét. 

Sư Giác Nguyên
(chép lại bài giảng của Sư ngày 19-12-2017)
- -

 


Tại sao tôi chịu khó tôi kể kỹ chuyện của Ngài Ca-diếp? Bởi vì không có Ngài là tụi mình bây giờ là đi hốt rác hết rồi!

Nói đến Ngài MahàKassapa (Maha Ca-Diếp) thì có cái chuyện đặc biệt phải kể.

Cách đây 100 ngàn đại kiếp thì Ngài là một người cư sĩ, thỉnh Đức Phật Padumuttara và Chư Tăng về nhà cúng dường. Thì hôm đó khi Đức Phật và Chư Tăng đang ngồi trong nhà ông thì ông thấy có một Tỳ-kheo ôm bát đi ngoài đường. Ông mới cho người chạy ra thỉnh Ngài vào luôn. Ngài này tướng hảo quang minh, chói ngời mô phạm, đạo cốt tiên phong, đẹp lắm! Nhưng mà khi ra mời thì Ngài từ chối, Ngài nói là:

- Ta chỉ nhận thức ăn trong bát, chứ ta không có vào ngồi ăn bên trong nhà như vậy.

Ông này nghe như vậy thì ông để bát. Xong rồi là Ngài đi. Ông cư sĩ này mới vô hỏi Đức Phật vì sao mà có chuyện đó. Vì sao vị đó không chịu vào đây ngồi dùng chung với Thế Tôn và Chư Tăng mà lại đi kiểu đó? Trong Chú Giải nói rằng Đức Phật lúc đó Ngài cố ý. Cái chuyện vị kia và cả Đức Phật lúc đó đều là do sự sắp đặt hết! Ngài cố ý cho ông thấy vì Ngài biết cái ông cư sĩ này sẽ mê cái hình ảnh đó. Chứ còn cả Đức Phật lẫn cái vị kia đều A-la-hán hết, có ai mà muốn ăn uống gì ba cái vụ kính bái của người ta đâu! Nhưng mà tại vì muốn giúp ông này.

Đức Phật Padumuttara Ngài mới giải thích thế này:

- Như Lai và Chúng Tỳ-kheo thì có thể dùng ngọ ở trong mái che hay ăn trong bát ở ngoài rừng, ngoài bụi cũng được, tùy duyên. Nhưng riêng những vị hạnh đầu đà như vị đó thì người ta chỉ có ăn trong bình bát thôi, đói no, ngon dở, nóng lạnh, hẩm hiu, thì có bao nhiêu đó thôi!

Rồi Ngài mới liên tục Ngài nói Như Lai và Chúng Tỳ-kheo có thể ở trong nhà có mái che, có lợp, có lót, có vách, có phênh, có cửa, có nẻo đàng hoàng, nhưng những Tỳ-kheo như ngươi mới thấy đó, là chỉ có ngoài rừng, ngoài bụi, hang động, gốc cây mà thôi. Như Lai và Chúng Tỳ-kheo, ai may Y sẵn cúng thì nhận cũng được nhưng mà vị Tỳ-kheo hồi nãy thì không, phải tự mình đi lượm. Rồi Ngài nói một hơi về 13 Pháp Đầu Đà.

Ông cư sĩ này ông nghe ông mê quá mê. Từ cái khuynh hướng tâm lý mà ông hết cái để mê, ông lại đi mê cái kiểu tu mà "đoạn trường tân thanh" như vậy mới mệt chứ! Ông cúng dường xong, ông nguyện:

- Mai mốt đời sau con nguyện trở thành một vị Tỳ-kheo giống y chang như vậy trong đời tương lai.

Thế là sau nhiều kiếp luân hồi, thì Ngài đi qua kiếp này kiếp kia, lúc siêu, lúc đọa. Có cái vụ này mới quan trọng: Qua nhiều kiếp luân hồi, lúc siêu, lúc đọa, cũng làm chó heo mèo vịt, làm trùn, làm dế, rồi tùm lum hết, rồi cuối cùng trở lên làm người, đại khái vậy.

Sẵn đây chúng tôi nói luôn là Bồ Tát Chánh Đẳng Giác, sau khi được thọ ký thì dầu có sa đọa cũng không sanh làm loài nào nhỏ hơn cái nắm tay. Thinh Văn thì bất định nhưng riêng Bồ Tát Chánh Đẳng Chánh Giác thì sau khi mà được thọ ký dầu có sa đọa cũng không có sanh làm loài nào mà nhỏ hơn cái nắm tay. Độ lớn thì không giới hạn, nhưng mà nhỏ thì không nhỏ dưới cái nắm tay. Vì sao? Vì do cái phước ba-la-mật nâng đỡ. Khi làm cái loài nhỏ quá, cái não trạng của nó có vấn đề. Thí dụ như làm con tôm, con nghêu sò ốc hến, làm con ruồi, con muỗi, .... mang tiếng là chúng sanh mà cái đầu của nó như cục đất vậy đó! Thì do cái phước của Ngài nâng đỡ, dầu có bị đọa cũng không có làm cái loài mà trong Kinh kêu là muội lược như vậy. Do cái phước ba-la-mật nó nâng đỡ. Người có phước ba-la-mật nâng đỡ dầu có bị đọa cũng khác người ta một chút. Phải nhớ ở chỗ này. Cũng giống như người đẹp, dầu có lấm lem lọt xuống hầm phân thì cũng là đẹp.

Trúc xinh trúc mọc đầu đình,

Em xinh em đứng dưới sình cũng xinh!

Thì ở đây có kiếp Ngài làm con này, kiếp làm con kia, mãi cho đến đời Phật Vipassì (Phật Tỳ-ba-thi). Nhắc lại, vị Phật đầu tiên Ngài gặp để nguyện là Phật Padumuttara, vị này là cách nay 100 ngàn đại kiếp. Tất cả Đại Thinh Văn của Thế Tôn đều được vị này thọ ký. Vì sao vị này phải có mặt cách Đức Phật mình tới 100 ngàn đại kiếp? Vì cái thời gian đó là thời gian bắt buộc để cho tất cả những vị Đại Thanh Văn đệ nhất này, đệ nhất kia, họ có đủ thời gian để họ nguyện. Sau khi Ngài Ca-diếp Ngài gặp Phật này xong rồi luân hồi không biết bao nhiêu kiếp, cho đến đời Phật Tỳ-bà-thi (Vipassì) cách đây là 91 đại kiếp thì Ngài Ca-diếp lúc đó Ngài sanh làm một ông Bà-la-môn nghèo. Nghèo coi như là không có cục đất chọi chim, không có miếng đất cắm dùi. Nghèo lắm. Hai vợ chồng chỉ có một miếng vải choàng thôi. Ở dưới thì lấy bắt chước như Trần Minh khố chuối, quấn tầm bậy tầm bạ. Nhưng phần trên khi đi ra ngoài muốn có mặt mũi với người ta, thì hai vợ chồng có cái áo choàng thôi. Lúc đó thiên hạ thái bình, chúng sanh an cư lạc nghiệp, ngủ không cần đóng cửa, của rơi ngoài đường không ai lượm. Chúng sanh sống đúng như là nằm trâu thổi sáo, mơ đời Thuấn Nghêu, cái thời an bình vậy đó!

Tuy thái bình thịnh trị nhưng mà theo thông lệ xã hội thì đàn ông đi đêm ok còn đàn bà đi đêm thì nó hơi kỳ. Đàn bà con gái con lứa mà đêm hôm lầm lầm lũi lũi thui thủi bước đi trên đường hoang vắng thì cũng kỳ. Cho nên lúc đó những phật tử đi nghe Pháp ban đêm thường là nam. Còn ban ngày thì nữ muốn đi thì đi. Sở dĩ tôi phải dài dòng như vậy để cho bà con đừng có thấy lạ. Ngài Ca-diếp kiếp này sanh vào làm một ông Bà-la-môn nghèo lắm, mà hai vợ chồng chỉ có cái áo choàng thôi,

Trong cái kiếp này Ngài nghèo lắm mà Ngài đi nghe Pháp thì Ngài thích quá. Ngài mới suy nghĩ hoài: "Thiệt tình thấy người ta cúng dường ham quá. Mình thì gia tài có mỗi cái khăn này. Mình đàn ông con trai mình không có choàng thì không sao, chứ còn bà xã của mình sao? Bây giờ cúng dường cái khăn thì khi bả đi chùa bả không có cái gì quấn coi sao được?"

Ngài cứ do dự do dự mãi cho đến nửa đêm thì Ngài quyết định cắn răng Ngài cúng. Ngài càng nhìn Phật là Ngài càng thương càng quý nên Ngài cúng cho Phật. Ngài thấy tắm khăn choàng của mình cũ quá, Ngài không biết Phật có thề dùng nó cho việc gì nên Ngài xếp và để phía trước chỗ Phật ngồi để Phật lau chân. Chỉ vậy thôi!

Trong Kinh nói ông vua đệ tử ruột của Đức Phật, cỡ như ông Cấp-cô-độc vậy đó, đêm đó ông đi nghe Pháp. Ổng nhìn thấy cái miếng vải chùi chân phía trước Đức Phật nó sáng chói lòa! Ông mới ngạc nhiên lắm:

- Bạch Thế Tôn, cái miếng vải này bằng cái chất liệu gì mà đặc biệt quá?

Đức Phật Ngài dạy rằng:

- Bình thường thôi, không có gì đặc biệt hết Đại vương à. Nó chói lòa là vì cái tín tâm của cái người cúng dường đó thôi!

Thì ông vua nghe ông lạ lắm:

- Bạch Thế Tôn, chúng con cũng cúng dường, cũng tín tâm thuần cốt, chúng con cũng thương Phật, quý Phật, kính Phật, trọng Tăng, mà tại sao không có được cái hiện tượng này?

Đức Phật nói:

- Các ngươi cúng dường nhiều thiệt, nhưng mà tính ra cái ông này Đạo Tâm của ông nó thuần cốt, nó đặc biệt lắm. Có thể nó đặc biệt hơn. Gia tài người ta chỉ có một cái mà người ta đã hy hiến trọn vẹn không giữ lại!

Ông vua nghe như vậy ông thương quá, ông mới đem cúng, ông đem tặng lại cho ông này những miếng vải choàng mà trị giá hàng ngàn đồng vàng. Thì ông nhà nghèo này mới suy nghĩ: Tại sao mình nghèo? Là tại vì mình không có bố thí. Bây giờ gia tài mình có một tấm để choàng mà mình cũng cúng làm phước. Bây giờ lại có được nhiều, thì tại sao mình không làm phước tiếp? Ông mới bèn đem cúng tiếp cho Phật. Vua cho bao nhiêu ông đem cúng hết cho Phật chỉ giữ lại 2 cái cho ông với vợ ông thôi! Chưa hết. Cái tích nó dài dữ lắm. Rồi hết cái kiếp đó ông về trời, rồi ông lọt xuống. Cũng đọa nữa! Đi vòng vòng vòng vòng làm vua, làm tướng, ăn mày, ăn cướp, thầy chùa, du đãng, đủ thứ, rồi trùn dế cào cào, trâu heo chó ngựa, đi vòng vòng vòng vòng. Đã gọi là luân hồi mà. Quý vị biết cái đó mới thấy xanh mặt!

Cuối cùng trong vòng luân hồi, trong đây tôi kể vắn tắt là nhiều kiếp và rất nhiều kiếp, Ngài Ca-diếp có duyên đặc biệt với các Đức Phật Độc Giác. Tức là những lần mà không có gặp Chánh Đẳng Chánh Giác, thì Ngài cứ gặp Đức Phật Độc Giác rất là thường. Độc Giác nghĩa là tự ngộ mà không có đệ tử. Mà vì sao ông hay gặp họ? Vì cái tâm! Cái tâm mình lành nên hễ trên đời có Hiền Thánh là mình có cơ hội gặp.

Khi ta có tâm lành thì tự nhiên không có Chánh Đẳng Chánh Giác thì cũng gặp được Độc Giác, mà không có Độc Giác cũng gặp Đạo Sĩ chân tu. Còn người không có lòng cầu Hiền, thì 8 ngàn vị A-la-hán có đứng trước mặt mình cũng như đui mù không thấy được. Người có lòng cầu Hiền, cầu Thánh thì trên đời này hễ có Thánh, có Hiền là tự dưng, một là Thánh Hiền họ sẽ thấy căn cơ của mình họ tới họ cho mình gặp. Còn hai nữa duyên cũng đẩy đưa để cho mình tới mình gặp mấy vị đó. Cái chỗ này nó vô cùng và vô cùng quan trọng. Rất là quan trọng. Có được cái lòng cầu Hiền không phải dễ đâu.

Có một người con gái kiếp xưa cách đây 100 ngàn đại kiếp, khi nàng nghe Ngài Ca-diếp được thọ ký sau này thành đệ nhất đầu đà nàng đem lòng thương quý và từ đó hễ có dịp luân hồi là họ gặp nhau, là sáp vô nhau; có lúc làm bạn, có lúc làm chị em, có lúc làm vợ chồng, có lúc làm mẹ con, mà cứ như vậy suốt mùa thu sanh tử. Đến cái kiếp cuối cùng thì chàng và nàng đều sanh về cõi Phạm Thiên. Rồi từ Phạm Thiên do duyên lành thúc đẩy cả hai đều sanh xuống cõi người, và gặp được Giáo Pháp, xuất gia, đắc La-hán hết.

Chuyện đời của Ngài Ca-diếp dài lắm. Khi trên Phạm Thiên Ngài xuống thì vì Ngài ở trên đó lâu quá cho nên cái lòng của Ngài ly dục. Ngài gặp nữ sắc Ngài không có cảm giác. Ăn ngon mặc đẹp cũng kông có cảm giác. Nói chung là 5 dục đã không có cảm giác mà còn thấy ớn, thấy mệt. Gia đình Ngài là đại thế gia, trang trại rộng đến mức không thể đi bộ mà chỉ có thể cỡi ngựa phóng ào ào để coi người ta làm sao rồi quay trở về, gác chân lên nằm nghỉ ngơi, không có đi tà tà được vì rộng lắm!

Một bữa trưa Ngài thấy nắng chang chang mà sao thấy mấy con trùn nó nóng quá nó chun lên mặt đất, nó bò quằn bò quại, rồi kiến bu, rồi mấy con chim tới mổ ăn, con chim lớn rượt con chim nhỏ, ... Tất cả những hình ảnh đó, trời thì nắng chang chang, mồ hôi nhễ nhại, rồi gặp sâu bọ giòi trùn dế chim chóc rượt nhau, rồi tiếng người làm công kêu gọi nhau ơi ới, cả một không gian âm thanh ánh sáng hỗn độn mà mõi mệt, khiến cho Ngài chạnh lòng. Ngài nghĩ: "Trời đất! Nếu mà quả thật cuộc sanh tử này chỉ có chừng này thôi, thì cuộc đời này có gì đáng sống nữa hả trời! Mình là đại gia phú hào mà mình thấy còn mệt mõi, thì huống gì những người khố rách áo ôm, giật gấu vá vai, không đủ ăn, không đủ mặc thì họ còn khổ cỡ nào nữa!" Ngài nghĩ như vậy, Ngài ngán quá! Ngài mới trở về gác tay lên trán nằm trằn trọc thao thức không yên. Gia đình mới ra hỏi Ngài: "Bây giờ con lớn con lấy vợ đi chứ!" Ngài nói "Con không muốn." Gia đình ép, khóc, năn nỉ. Cuối cùng Ngài bèn cho thợ đúc một bức tượng vàng do chính Ngài vẽ kiểu, với những nét đẹp thiên kiều bá mị, lộng lẫy kiêu sa, mà Ngài nghĩ rằng trên đời này không thể nào mà có người con gái nào đẹp hơn vậy. Xưa nay đẹp cỡ đó là bất khả. Gọi là đẹp như mơ, xinh như mộng, đẹp như tiên. Ba cái - mơ, mộng và tiên - thì mấy cái này làm gì có trong cái nhận thức nhân gian.

Nhưng mà người ta không ngờ rằng gia đình cho người cầm bức tượng đó đi vòng vòng thiên hạ. Cuối cùng đã tìm ra một người con gái đẹp y chang như cái bức tượng vàng đó, mà dĩ nhiên là còn đẹp hơn nữa: đường nét thì giống, nhưng mà màu da ngon lành hơn. Mà lạ lắm. Do duyên xưa nó thúc giục nên người con gái đó chính là cái người hồng nhan tri kỷ mà đã đi theo Ngài suốt 100 ngàn đại kiếp. Khi nghe nói tới thanh niên Pipphali thì tự nhiên nàng chạnh lòng xúc động. Trước đó nàng gặp đàn ông thì chỉ là coi như phường phàm phu không đáng cho sờ vạt áo. Vậy mà hôm đó chỉ nghe nói đến tên Pipphali, nàng có một chút xao động - cái thuở ban đầu lưu luyến ấy.

Trên đường đi về nhà chồng, nàng âm thầm viết một lá thư gửi cho Ngài, nàng nói thế này: "Túc hạ nhã giám. Duyên bèo nước tương phùng gặp nhau trở thành nghĩa tào khang. Không biết mặt nhau mà bây giờ lại về sống với nhau. Nhưng nói thiệt, lòng của thiếp chỉ muốn buông bỏ hết mọi sự. Còn đi đâu về đâu thì chưa biết. Nhưng còn chuyện mà sống kiểu nhi nữ tình trường thì ôi thôi nó ngán ngẫm quá. Nếu mà Ngài có lòng thương thì cưới nhau cho hai họ vui vẻ rồi mỗi đứa về ngủ một giường. Sau đó Ngài muốn lấy thê lấy thiếp bao nhiêu em cũng không có ý kiến!"

Nhưng không ngờ cái lá thư đó chưa kịp đi thì nàng bèn nhận một lá nội dung y chang như vậy: "Tiểu thư nhã giám. Tại hạ là vốn dĩ không mê cái đường tình ái lăng nhăng. Chẳng qua vì vui lòng cha mẹ, cho nên tại hạ mới lấy vợ. Nhưng mà lấy nhau rồi, về làm ơn cho em ngủ riêng một mình."

Hai lá thư đó chạm nhau trên đường và cả hai người đã nhận lá thư cùng một lúc. Họ vui lắm! Thế là tri kỷ đã gặp tri âm rồi. Đêm động phòng hai người để một cái chuỗi hoa tươi nằm giữa và dặn rằng chuỗi hoa này là biên giới, là chủ quyền biển đảo được xác định ngay trên cái chuỗi hoa này. Sáng mai hoa héo phía nào là phía đó dở. Cứ như vậy mà cái chuỗi hoa để giữa không bị héo. Và cứ vậy, tân lang tân nương sống với nhau được mấy hôm thì cuối cùng họ bàn với nhau thế này: Sống mà kiểu này nó mệt quá! Đi tu cho rồi!

Họ mới mặc áo nâu sòng rời nhà ra đi. Trong Kinh nói Ngài Ca-diếp có 7 tướng đại nhân. Ngài Rahula thì có 32, còn riêng Ngài Ca-diếp có 7 tướng. Ông Bà-la-môn Bàvari có 3 tướng. Một lúc nào đó mình sẽ học tới mấy cái đó: tướng lưỡi dài rộng, tướng duỗi thẳng tay rờ gối, tướng mã âm tàng, đại khái có tất cả là 7 tướng. Thì Ngài đẹp lắm! Mà bà cũng đẹp lộng lẫy. Trên đường đi tuy hai người ăn mặc áo tu mà người ta cứ xì xào: "Trời đất ơi! Có lộn không? Đẹp như vầy, trẻ như vầy, mà tại sao bỏ hết đi tu vậy trời?" Khi Ngài nghe như vậy Ngài thấy không xong, hai người mới bàn với nhau, rồi chia tay, ai gặp Đạo Giải Thoát trước thì sẽ về tìm cái người còn lại! Thì khi hai vị chia tay nhau ngay chỗ ngã ba với một lời dặn dò giống như là Ngài Mục-kiền-liên Ngài dặn Ngài Xá-lợi-phất vậy: "Thôi thì mỗi người đi một hướng, ai tìm được Đạo Giải Thoát trước thì trở về tìm người kia."

Khi hai vợ chồng Ngài Ca-diếp chia tay nhau thì cái Đại Địa này nó rung động, nó cảm kính, gọi là chiêu cảm. Cả trái đất rung động. Thì lúc đó Đức Thế Tôn ở trong Chùa Trúc Lâm Veluvana, Ngài bằng thiên nhĩ Ngài nghe được cái sự dao động trong lòng đất. Ngài nghe cái địa chấn như vậy, Ngài mới suy nghĩ nhanh liền: Vì sao có chuyện này? Ngài biết đó là cuộc chia tay của hai bậc gọi là Đại Sĩ.

Thế là Đức Thế Tôn lập tức có mặt ở chỗ ven rừng mà Ngài Ca-diếp sắp sửa đang hướng tới. Ngài Ca-diếp vừa đến ven rừng thì Ngài nhìn thấy có một nhân vật 32 hảo tướng, 6 màu hào quang chói lòa, đang ngồi ở đó. Ngài chưa gặp Phật bao giờ, chưa hề nghe gì về Phật bao giờ, vừa nhìn thấy là Ngài đến Ngài quỳ xuống và lấy cái trán dập xuống dưới chân Thế Tôn và có một câu lễ bái như thế này:

- Thế Tôn là Đạo Sư của con và con là đệ tử của Thế Tôn.

Tại sao tôi chịu khó tôi kể kỹ chuyện của Ngài Ca-diếp? Bởi vì không có Ngài là tụi mình bây giờ là đi hốt rác hết rồi! Bởi vì Ngài là cái người tổ chức kiết tập Phật Ngôn lần thứ nhất. Chính Ngài là người đã san định lại cơ đồ hồng phù đại lược của Phật Giáo!

Chuyện Ngài Ca-diếp có liên quan đến một chuyện mà Phật tử Việt Nam bắt buộc phải biết. Tôi đã nói nhiều về cái chuyện Đại hiếu Mục-liên. Đó là một sự tráo đổi giữa Ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên; giữa Nam Tông và Bắc truyền.

Bữa nay tôi kể cái chuyện Ngài Ca-diếp được gọi là phó chúc, được gọi là trao cho Chánh Pháp nhãn Tạng như thế nào trong Kinh Điển Nam Tông. Thì nó như thế này. Trước cái ngày mà Thế Tôn gặp Ngài Ca-diếp, Thế Tôn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài xét thấy rằng Chư Phật ba đời đều có tối thiểu một lần đi lượm vải cũ, vải dơ, để về tự tay mình giặt rồi làm Lá Y để mặc. Ngài xét thấy Chư Phật ba đời đều có một lần như vậy. Nên hôm đó đích thân Ngài vào trong rừng, chỗ người ta liệng xác người chết. Ngài thấy có một cái xác của một cô đầy tớ gái - cô nữ tỳ- chết rồi. Người nhà mới lấy miếng vải trắng quấn xác đem vô liệng trong rừng. Đích thân Thế Tôn Ngài lấy cái miếng vải đó Ngài ra suối Ngài giặt. Trong Kinh nói khi Thế Tôn Ngài ra suối Ngài giặt như vậy đó, nhiều cái chuyện đặc biệt nó đã xảy ra. Tôi kể ra đây bà con nói phong thần tôi dẹp luôn khỏi kể! Tôi chỉ kể rằng khi mà Ngài ra suối giặt vải như vậy thì Đại Địa chấn động 9 lần! Rồi Ngài về Ngài mới đưa cho Ngài Anan nhuộm, cắt, may thành Lá Y để Ngài mặc. Ngài mặc Y đó trong cái bữa Ngài gặp Ngài Ca-diếp

Khi gặp Ngài Ca-diếp, Đức Phật Ngài có khen thế này:

- Lá Y của Ca-diếp đẹp quá!

Không đẹp sao được? Ngài Ca-diếp là đại gia, đi tu nhưng cũng mặc toàn là silk, khăn choàng cũng là Hermes, LV, chứ đâu có xài cái đồ mà tào lao như mình.

Ngài Ca-diếp Ngài mới nói:

- Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn vì lòng đại bi mà đổi Y với con, con sẽ mặc Y của Thế Tôn và Thế Tôn sẽ mặc Y của con.

Thì Đức Phật mới dạy thế này:

- Ca-diếp có biết rằng Lá Y của Như Lai đang mặc này không có ai cũng mặc được. Đây là cái Lá Y mà do chính Ta đã nhặt vải về, rồi để Anan may nhuộm cho Như Lai, nhưng mà Ca-diếp thì được!

Ngài nói như vậy là bắt đầu hai Thầy Trò có cuộc trao đổi Y. Mà tại sao có cuôc trao đổi kỳ lạ như vậy? Vì Ngài biết cái người trước mặt Ngài là ai. Ngài biết đây sẽ là Đệ Nhất Tôn Giả Đầu Đà. Là vị sẽ cầm cái lá cờ Ly Dục Tôn của Chư Phật ba đời mười phương.

Cho nên mới có cái chuyện đổi Y đó. Chứ không phải là trao truyền y bát, phó chúc Chánh Pháp nhãn Tạng như Bắc tông nói đâu. Lịch sử thiền tông họ kể nghe thơ mộng, nhưng mà không phải vậy. Chuyện ở đây là như vậy đó! Chuyện cái vị kế thừa tinh thần Ly Dục Tôn.

Trích bài giảng Kinh Tăng Chi số 007

Kalama xin tri ân bạn sumanaduong ghi chép

-


Thầy Bổn sư của tôi là thủ khoa A-tỳ-đàm. Thầy tịch năm 1984 lúc đó tôi chỉ mới 15 tuổi. Thầy có một cái độc chiêu: thầy dạy học hay dịch kinh cả đời chỉ trên cái ghế bố. Thức ăn của thầy gồm có 4 món như sau: bánh tráng, dưa hấu, đu đủ, miến. Suốt đời chỉ ăn mấy cái đó thôi, thức ăn khác ăn không được. Điều đặc biệt là ngài tịch năm 71 tuổi, răng trắng như ngọc, đều như bắp, răng đẹp cực kỳ, lạ há. Bàn chải đánh răng thì ngài phải xài loại cứng nhất. Cái mà tôi muốn nói là cái này, thầy đang đọc bài mà ngủ quên giựt mình thức dậy ngài vẫn tiếp tục đọc tiếp. Ngài ngủ thiệt, ngủ buông bút, rớt sách. Đệ tử để yên chứ đâu dám kêu, lát sau cây bút rớt cái độp, giựt mình lượm lên để lên bàn, đọc tiếp. Nghĩa là nãy giờ không phải stop mà là pause.

Quí vị vô Google tìm “Hòa thượng Tịnh Sự”, trong đó sách của ngài là một tỷ. Ngài truyền Sadi giới cho tôi. Ngài là thủ khoa đầu tiên duy nhất ở Việt Nam (cho tới giờ). Cuộc đời ngài có cái huyền thoại đó là ngày xưa ngài tu bên Bắc Tông. Ngài là giáo thọ có đệ tử cả ngàn ở chùa Bửu Hưng, Sa Đéc. Đến năm 36 tuổi, có cái đêm đó ngài đọc tạng luật của Hán Tạng thấy trong đó hơi kỳ kỳ. Ngài nghĩ không có lý nào một vị Chánh Đẳng Chánh Giác mà trục trặc như thế này, chắc cái này là của đời sau quá. Tự nhiên ngài thấy nó kỳ kỳ. Ngài nghĩ rất đơn giản, mình đang ở Bắc, Nam truyền mình không rành, thôi thì mình thử lục bên Nam truyền rồi combine hai thứ lại.

Tôi biết có nhiều người bị bế tắc bên Bắc Tông nhưng không dám qua Nam vì sợ người ta nói tiểu thừa, nhục. Có thật! Họ bị ám ảnh cái đó, nghĩa là họ cứ bị nhồi “tiểu, tiểu, tiểu”. Giống như nhiều cán bộ muốn nghiên cứu thêm nhưng mà sợ cái này là lý luận của tụi tư bản vậy, trong khi mình là “đỉnh cao trí tuệ” tiêu biểu cho tinh hoa loài người mà sao tự nhiên mình đi đọc sách về văn hóa, nghệ thuật, hội họa kiến trúc … của tụi tư bản thì hèn quá. Như bên Hồi Giáo họ bị nhồi riết rồi họ nói trên đời này mà perfect thì chỉ có thánh Allah thôi. Cho nên có cái ông đó dệt tấm thảm quá đẹp, hoàn hảo từng đường kim mũi chỉ, bạn ông nói cả đời chưa từng gặp cái tấm thảm nào hoàn hảo hơn tấm thảm này. Ổng nghe như vậy ổng xanh mặt, bạn về, ổng thò cái kéo cắt một góc hư tấm thảm để nó không perfect nữa, bởi nếu nó perfect thì sẽ là một sự phạm thượng với đức Allah. Có những thứ đức tin lạ quá cỡ thợ mộc như vậy.

Ngài mới mò qua bên Miên, ở chỉ có mấy tháng rồi ngài qua Thái. Lúc đó ngài mới 36 tuổi và trong đầu chỉ có hai thứ tiếng thôi đó là tiếng Hán và tiếng Việt. Rồi ngài xin vô chùa Thái mà rất là khó khăn vì ngôn ngữ bất đồng. Lúc đó có cái chuyện ngài xin giấy thông hành từ Miên qua bên Thái, ông hải quan là người Pháp, lúc đó đang rối rắm về chính trị nên ổng từ chối. Ngài cứ xin hoài nên ổng bực, ổng lấy cái cây thước khẽ ổng gõ đầu ngài. Tây mà, nó coi dân mình là man di lắm. “An-na –mít” mà. Nó gõ vừa xong thì cái đầu nó nhức như bưng, nó ôm cái đầu nó lăn, lăn. Nói theo trong kinh là tổn đức vì giống như là nó đánh nhầm bậc đại nhân. Có cái ông thông sự là người Việt, ổng có biết chút đỉnh, ổng nói: Chết you rồi, you đập nhầm thầy chùa rồi. Đánh nhầm thầy rồi. Thằng Tây nó hỏi tao phải làm sao bây giờ, cái đầu nó nhức quá. Xin lỗi đi, rồi ký giấy cho ổng đi. Ký xong là cái đầu nó tỉnh bơ trở lại. Lạ lắm.

Ngài qua Thái ngài học tiếng Thái. Học với ai? Ai đi qua Thái thì biết, chung quanh chùa con nít Thái, con nít Miên, con nít Lào, con nít Miến, con nít Tích Lan chúng nó coi cái chùa giống như cái đình vậy đó, má nó đem đồ ăn vô chùa, mấy sư ăn xong thì đến phiên tụi nó nhào vô nó ăn. Thanh niên ngoài phố về học đại học mà không có chỗ ăn chỗ ở cũng cứ nhào vô chùa, quét chùa là có cơm ăn. Chung quanh chùa thì người ta bán bánh đúc bánh đa… Ngài học tiếng Thái với mấy thằng nhóc, mấy thằng vô chùa đá banh, bắn bi. Ngài lượm mấy cái thẻ nhang có tiếng Thái, mấy cái miếng giấy gói bánh in, hỏi cái này đọc làm sao. Lúc ngài nói bập bẹ được thì cái lớp A-tỳ-đàm người ta đã khai giảng được 7 tháng rồi, nghĩa là ngài vô trễ bảy tháng mà tiếng Thái của ngài ấm a ấm ớ. Chương trình người ta 7 năm, ngài vô trễ 7 tháng nên ngài chỉ học được 6 năm 5 tháng. Học xong thì ngài đậu thủ khoa, tại Thái, ông thầy của ngài người Myanmar. Vừa học đạo vừa học ngôn ngữ. Bên Mỹ như vậy nhiều lắm, nhiều người VN qua vừa học đạo vừa học tiếng Mỹ. Nhưng thời này mình trau dồi tiếng Anh có điều kiện hơn ngày xưa ngài trau dồi tiếng Thái. Ngài học xong thì theo cái lệ của Miến Điện và Thái Lan là you đắp y xuất gia hay you ghi danh học một cái trường phải có sponsor. Vì nếu không có sponsor lỡ you bệnh thì ai gánh. Bà sponsor này có một cô con gái. Bà thương ngài. Khi ngài đậu thủ khoa xong thì bà vô đặt vấn đề với ngài. Bên Thái Lan người ta thấy chuyện đó bình thường lắm. “Con gái tôi thương you, nếu mà you tu luôn thì tụi tôi sponsor còn nếu không tu thì làm rể. Ngài nói không, tôi qua đây tôi học rồi tôi về xứ mà. Xong rồi ngài bỏ đi và về Việt Nam, rồi bà cũng liên lạc một thời gian bằng thơ qua bưu điện, rồi xong.

Đại khái đó là những cái mà tôi được nghe về ngài. Sẵn mình học A-tỳ-đàm thì mình phải biết ông tổ A-tỳ-đàm của mình chứ.

Sư Giác Nguyên

Lớp A-tỳ-đàm, Dallas 2016

Nguồn: toaikhanh.com

-



(Hỏi - Đáp cùng sư Toại Khanh)

HỎI

Con có một thắc mắc : Bây giờ có nhiều người giỏi, nhiều người giàu rồi thì chư Phật cứu người nghèo, người thiếu, người dốt chứ cứu chi người giàu, người giỏi ạ ?

ĐÁP

Đó là lý luận một chiều. Cô phải có đất thì tôi mới giúp cô cất nhà được. Nếu cô không có đất thì cất ở đâu? Vật chất thì có thể nói như vậy được nhưng về tinh thần thì không. Về tinh thần mình phải có chủng tử thì mới giúp được.

Ví dụ 1 :

Cô vừa rủ 3 người đi shopping cần gì mua nấy mà cách đây 15 phút chính mắt tôi thấy cô mua cho 2 cô kia mỗi cô một đôi giày mà tại sao tôi cô không mua? Tại vì tôi cụt chân.

Sư : Vậy tôi hỏi cô tại sao cô mua cho 2 người không tật nguyền mà cô không mua cho người tật nguyền này ?

PT : Vì không có chân thì lấy gì mà mua.

Sư : Vừa rồi cô nói giúp cho người nghèo, người thiếu. Cho nên tùy mình phải biết họ thiếu cái gì và thiếu cỡ nào? Nếu cụt chân thì làm sao mình mua giày cho họ.

Ví dụ 2 :

Từ xưa tới giờ không ai mua keo xịt tóc cho tôi , tại sao vậy ? Vì tôi không có tóc .

Cho nên ai muốn giúp mình họ cũng phải coi mình có cái background gì thì họ mới giúp được.

Đạo giải thoát y chang như vậy. Muốn giúp cho họ giải thoát thì mình phải coi họ có căn hay không. Nếu họ không có căn thì giảng tới tết cái đầu của họ cũng cứ “đơ“ ra. Và nên nhớ thế này : Chư Phật không có vụ hà hơi tiếp sức độ cho người không muốn tu. Bằng chứng là nếu chư Phật có thể độ người không muốn tu thì hôm nay mình lên toà sen ngồi rồi. Có nhiều người nói Phật là vô biên, cầu thì Ngài sẽ giúp, họ tưởng nói như vậy là họ khen Phật. Nhưng thật ra đó là họ chửi Phật đó. Nếu nói Phật có thể độ mọi người thì tại sao thời Phật còn sống chó, heo, mèo, vịt nó đầy ra đó tại sao Phật không dùng phép biến nó thành tiên ? ! Nên nhớ lúc Phật còn, địa ngục vẫn tồn tại và có rất nhiều người ở dưới đó.

Đệ nhất thần thông bên tăng là ngài Mục Kiền Liên, dời non lấp biển giống như cái búng tay mà trớ trêu thay ngài cũng bị nạn bầm nát như tương hột. Đệ nhất bên ni là Liên Hoa Sắc cũng bị cưỡng hiếp. Cho nên tôi thù nhất cái vụ cầu an cầu siêu. Cái đó là do mình chế ra. Trong kinh tôi đố các vị tìm được bài kinh nào Phật và các vị thánh tăng đứng kế bên cái xác lạnh ngắt cầu nguyện cho cái xác đó đi lên cõi này cõi kia. Chuyện đó không bao giờ có. “Đã đi mất biền biệt sơn khê, cố nhân ơi bao giờ mới về“ Cho nên không có chuyện “ chú nguyện, thím nguyện“. Chuyện đó không bao giờ có.

Cầu an là người bị trọng bệnh, mình tới nói pháp cho họ nghe, an ủi cho họ đừng sợ, đừng buồn, để họ ổn định tâm lý. Còn tụng cho hết đau, hết bệnh mà nếu có chuyện đó thì Phật pháp khác nhiều lắm. Sanh, già, đau, chết, ... cứ đè ra mà tụng là xong hay sao?

Nguồn: toaikhanh.com

-

HỎI - ĐÁP cùng sư Toại Khanh

HỎI:

Sư có tin chuyện mình thờ Phật, đeo tượng Phật mà không sợ ma không?

ĐÁP:

Đức Phật còn bị ma phá nói gì mình. Dĩ nhiên Phật không sợ.

Tôi tin thờ Phật, ma vẫn phá, và tôi tin thờ Phật đúng cách thì không còn sợ ma nữa. Chuyện,ma có phá hay không, không quan trọng, quan trọng là ta có sợ hay không. Đây là kinh nghiệm bằng vàng đó là :

- Khi nào trước bàn thờ Phật mình không dám nghĩ bậy, làm bậy, nói bậy, mình có cảm giác rằng ngài đang ở trước mặt mình, thì mai này có sợ hãi gì, chỉ cần bước vào gian thờ, mình nhìn lên ngài thì mình vững bụng.Thờ Phật bằng kiến thức giáo lý của người Phật tử, mỗi lần lạy Phật là lạy với tất cả lòng kính thương và tri ân vô bờ đối với ngài, thờ như vậy thì không sợ ma.

Còn nếu mình thờ cho vui, thỉnh tượng đẹp, đắc tiền cho bằng chị bằng em, kiếm cặp đèn crystal kwarovski cho sang lên. Kiểu thờ này mai kia có lòng sợ hãi, có cảm giác cô đơn buồn tẻ, vào gian thờ, lòng sẽ không vơi giảm một tí nào.

Còn chuyện đeo tượng Phật trên người, tôi trăm ngàn vạn lần can bà con đừng đeo vì tới một ngàn lý do :

- Bức tượng mình đeo trên người là dễ bị mình lãng quên nhất. Mình đeo và mang ngài vô tất cả nơi chốn cực kỳ bất tịnh và chưa kể khi đeo bức tượng ngài trên người, thân mình bất tịnh và mình làm những chuyện bất tịnh, và bắt ngài phải chứng kiến những chuyện bất tịnh, như vậy có nên hay không?

- Tôn kính bậc đạo sư là phải học hiểu giáo lý đến mức độ khi cần nghĩ tới ngài thì mình có cảm giác ngài đang ở trước mặt mình, và mình đang quỳ trước mặt ngài thì đó gọi là lòng tôn kính.

- Tôn kính do hiểu ngài chứ không phải là do nghe tăng ni hù dọa.

- Tôn kính ngài là do hiểu được ngài, ngài đã vì mình, vì chúng sanh mà máu lệ vô số kiếp sanh tử, khi thành Phật rồi ngài giác ngộ tất cả mọi thứ ở đời : Cái gì ngài cũng biết, ai ngài cũng thương và đức lành nào ngài cũng có.

- Giáo lý càng nhiều, mình hiểu Phật càng sâu càng rộng thì lòng kính thương và tri ân nó mới bao la vô bờ.

* Với chánh pháp cũng vậy. Chánh pháp không phải nghe những lời kinh huyền diệu xa vời mông lung huyễn hoặc, mà chánh pháp chính là đạo sống, lẽ sống, là nguyên tắc sống, là chuẩn mực sống, để chúng ta theo đó làm cho mình trở nên tốt hơn, an lạc hơn và khiến những người quanh ta cũng vậy. Lòng tôn kính chánh pháp của chúng ta như thế nào thì hoàn toàn tuỳ thuộc vào khả năng hiểu biết nhận thức của chúng ta đối với giáo lý.

Dốt đặc như cán cuốc, kiến thức học le que như là lá me thì làm sao đối với chánh pháp bằng một lòng tôn kính.

Tại sao tôi thường nói quí vị làm gì thì làm phải có khái niệm về 4 Đế. Phải hiểu mọi thứ là khổ thì mình mới thấy được chánh pháp là đáng quí cỡ nào. Chánh pháp là con đường Đức Phật dạy mình tu được bao nhiêu thì bớt khổ bấy nhiêu.

- Đêm đêm lạy Phật phải nhớ : Phật là người đã thoát khổ, đã hành trì con đường thoát khổ và bản thân đã thoát khổ.

- Chánh pháp chính là nguyên tắc hành trì để không còn khổ nữa, dầu chư Phật ba đời mười phương, hay là người đệ tử nhỏ nhất của các ngài cũng đều phải hành trì con đường ấy để thoát khổ.

Thánh chúng đệ tử của Thế Tôn là những người đã hành trì con đường đó qua lời dạy của chư Phật, và đã hành trì thành công thành tựu. Chứ còn lơ mơ như mình thì chưa được gọi là thánh chúng.

- Chúng ta phải nhớ rằng đâu đó dưới gầm trời này, và trong vô lượng vũ trụ hiện đã đang và sẽ - có vô số thánh chúng của chư Phật ba đời mười phương, những người lắng nghe chư Phật, hiểu chánh pháp và thực hiện đúng mức để không còn tiếp tục mê lầm điên đảo mộng tưởng nữa.

HỎI:

Điên đảo mộng tưởng là sao?

ĐÁP:

Là trong cái vô thường thấy rõ nó là vô thường, trong cái khổ biết rõ nó là khổ, trong cái vô ngã biết nó là vô ngã, trong cái bất mỹ bất tịnh biết nó là bất mỹ bất tịnh.

Có thờ Phật, thờ tam bảo như vậy mới được gọi là cung kính đạo sư, cung kính chánh pháp và cung kính chúng tăng.

Còn mình thấy đầu không tóc, quấn y vàng, rồi quỳ lại, bởi vì nghe nói đó là phước điền, đó là ruộng phước thì kẹt quá. Mình đến với nhau dễ quá, mai này mình cũng bỏ nhau dễ lắm quí vị biết không.

Mình không học giáo lý, mình lạy Phật một cách đơn giản, lạy thầy tu, tăng, ni một cách đơn giản, mai này mình cũng lìa bỏ tam bảo một cách rất đơn giản.

Mình muốn cưới nhau thì phải tìm hiểu nhau, để rồi mai này có mất nhau rồi mình vẫn còn tiếp tục nhớ nhau. Còn tìm hiểu nhau, đến với nhau dễ dàng, thì sớm muộn cũng dễ dàng mất nhau như đã dễ dàng lấy nhau.

Nguồn : http://toaikhanh.com

-


Tùy vào khuynh hướng tâm lý mà đường lối nhận thức cũng như kiểu tu hành của mỗi người không giống nhau. Chúng sanh trong đời có hai hạng, một hạng biết sợ sinh tử chán hiện hữu và một hạng thì muốn đời đời sống hoài.

Từ khuynh hướng tâm lý này mới dẫn đến việc họ đi tìm đến tôn giáo nào có thiên đường. Chết là được lên thiên đường diện kiến nhan thánh Chúa. Còn thiên đường của bên Hồi giáo thì nghe khoái lắm, nếu sống đạo hết lòng, khi chết về trời thì mỗi người đàn ông sẽ được tưởng thưởng 47 cô tiên đẹp như mơ xinh như mộng. Trên đó có những dòng sông đầy ắp rượu ngon tùy khẩu vị của mỗi người. Dưới trần thích uống rượu gì thì khi lên trên cứ đưa cái ấm xuống dưới sông múc là có ngay rượu đó mà uống. Say sưa rồi lết ngược lên thảm cỏ, ngắm trời xanh mây trắng nắng vàng với 47 người đẹp bên cạnh tha hồ hưởng thụ.

Theo tinh thần PG, mọi hình thức hiện hữu dầu đắng hay ngọt đều là vô nghĩa. Nếu có huệ căn một tí mình sẽ thấy ngay tại sao vô nghĩa. Bởi vì, nếu như sống hoài không chết, cứ sống hoài bên cạnh người mình thương, có được cái mình thích, ở được chỗ mình muốn, rồi cứ mãi như vậy hoài không có lúc kết thúc thì sẽ được gì. Bậc thượng trí không muốn như vậy, vì đó là sự lặp lại tẻ nhạt. Còn hạng chúng sanh bình thường hạ căn kém trí thì lại khoái như vậy.

Từ đâu ra những nhận thức khác biệt như vậy? Bởi vì, người có niệm có tuệ thường sống tỉnh thức, bình tĩnh tỉnh táo quan sát nhìn ngắm từng cảm xúc buồn vui của mình, thì họ mới có dịp chán. Còn người sống như trẻ con hồn nhiên thơ ngây giao phó niềm tin cho cuộc đời thì mới tin yêu được nó.

Tôi nghĩ trong room này dù không mong là tất cả nhưng chắc cũng có người đồng ý với tôi.

Có người ngồi giữa căn nhà bạc triệu, nhìn ra ngoài garage có mấy chiếc xe đắt tiền; nhìn cảnh bà vợ nấu ăn, dọn ra cho sấp nhỏ, chúng ăn no xong để đống chén cho má rửa rồi nhào qua chơi game hay học bài. Ông chồng ngồi nhìn cảnh đó nghĩ mà chán khi cứ mỗi ngày đem tiền về, và nhịp sống cứ thế lặp lại. Rảnh thì bạn bè a lô, email, facebook, chít chat. Có bữa hàng xóm bấm chuông kêu cửa, họ đem qua cho một ổ bánh hay hũ mứt. Miệng nói câu cảm ơn, trong bụng nghĩ mai này làm món gì đó thì sẽ đem qua đáp lễ.

Rồi thì những buổi tối quây quần ấy cũng kết thúc. Đàn con cũng lớn lên, trai có vợ, gái có chồng, rời nhà xây tổ ấm riêng. Còn lại hai vợ chồng già ở với nhau, chờ đến lúc vô nhà già nằm. Rồi thì đến ngày ngáp ngáp, ai đi trước thì đi. Người đi sớm thì không nói gì, người đi trễ thì một ngày nọ trở nên lẫn. Mắt kèm nhèm ngó mông ra đường, gặp ai cũng gật cũng lắc, miệng nói những lời vô nghĩa. Rồi một đêm tối mùa đông, y tá đến rờ thấy lạnh. Thế là xong. Báo tin cho những người con. Rồi đem đi thiêu, đem đi chôn. Hết thế hệ này qua thế hệ khác, những đứa con cũng lặp lại cảnh cũ. Nhiều người thấy cảnh như vậy mà ngán.

Tôi ở Thụy Sĩ thấy cảnh như vậy nhiều lắm. Những ngày mùa đông, tuyết phủ trắng trời trên những ngọn đồi, những ông cụ bà lão khập khiểng bước thấp bước cao đẩy chiếc xe shopping cart đi chợ. Họ không có con cháu hoặc con cháu ở xa. Tự mình kéo chiếc xe lên dốc ì à ì ạch, cặp mắt lờ đờ mờ đục, mở cửa bước vào nhà. Rồi khói tỏa ra từ ống khói trên nóc nhà, một con mèo nhảy vụt qua cửa sổ ‘ngao’ lên một tiếng. Tuyết vẫn rơi lất phất ngoài sân, có tiếng chó sủa xa xăm vọng lại.

Quí vị hỏi sao tôi tả kỹ vậy. Bởi nó diễn ra trước mắt tôi. Tôi thấy hết. Tôi nghĩ, trời đất ơi, mình vô room giảng thế này, bây giờ đã năm mươi, rồi mai kia sáu mươi, rồi sáu lăm, nếu không ngưng cứ giảng hoài. Rồi có một ngày quí vị thấy tôi không vô. Quí vị gọi phone cho người gần bên hỏi sao hôm nay sư không vô, liên lạc cũng không được. Người ở gần xách xe chạy tới. Quí vị vẫn còn mở room chờ. Họ báo: He died rồi. Rồi trong room có mấy người đưa mấy cái bông lên. Rồi có mấy người ‘Sādhu!’. Ai chớ VN mình là vua sādhu. Rồi họ nói, sư mất rồi, thôi bà con đóng room đi. Từ nay về sau không có vô nữa. Rồi lại sādhu sādhu, chúc cho sư thượng lộ bình an, chân cứng đá mềm, sanh về cảnh giới an lạc….

Giống như sư Thiện Minh đó, bây giờ người ta quên sạch rồi, đâu có ai nhớ nữa. Cúng thất cúng giỗ thì làm cũng xôm tụ lắm, nhưng đâu được ít lâu, lên Facbook thấy mất tiêu. Cũng một thời lừng lẫy, cũng đẹp trai, răng trắng, môi hồng, trán rộng mà bây giờ không còn ai nhớ. Chùa miểu thì thay đổi trụ trì khác. Thế là xong, chỉ còn là bóng mờ trong sa mạc thôi.

Cho nên, bậc thượng căn không cần phải chiến tranh khói lửa máu lệ tùm lum, không cần phải sanh ly tử biệt, chỉ cần nghĩ về cuộc đời như vậy là họ nổi da gà rồi.

#NhậtKýChépBằngKinh_Tập 19
Sư Giác Nguyên (giảng)
New Dharma Readers
-



THU THÚC LỤC CĂN


Việc thu thúc lục căn rất quan trọng. Toàn bộ đời sống của chúng ta từ phàm tới thánh (từ con dòi cho tới Phạm thiên) đều chỉ là chuỗi hoạt động của 6 căn. Không thể nào định nghĩa khác đi được. Vì vậy thu thúc lục căn nghĩa là mình sống trong sự kiểm soát.

Bao nhiêu vấn đề của đời tu, của đời sống, của dòng sinh tử luân hồi đều được khởi đi từ chuyện chúng ta đã làm gì với 6 căn của mình; lúc thì bất mãn, lúc thì đam mê thích thú theo đuổi. Chính vì lúc thì bất mãn cái này, lúc thì thích thú cái kia cho nên mới có ý niệm trốn khổ tìm vui.

Tùy vào cơ địa tâm lý của mỗi người mà ta trốn khổ tìm vui bằng cách nào, cạn hay sâu, cao hay thấp. Có kẻ trốn khổ tìm vui bằng cách vùi đầu trong vật chất, có kẻ vùi đầu trong cõi tâm linh tinh thần. Trong vật chất, tinh thần ấy, có kẻ nghiêng về thiện, có kẻ nghiêng về bất thiện. Sống cũng là 6 căn, sa đọa cũng là vấn đề của 6 căn, mai này giải thoát hay không cũng là vấn đề của 6 căn.

Có người nói là thờ Phật nhưng họ tu nhiều bằng mắt, có người tu nhiều bằng lỗ tai, có người tu nhiều bằng ý (tâm). Chúng ta làm bất thiện bằng 6 căn. Có người sống nhiều bằng con mắt, thích ngắm cái này cái kia bằng tâm tham. Có người thì thích nghe, họ bỏ tiền bạc một đời chỉ để sưu tập nhạc. Có người thích nước hoa. Có người thích chăn êm nệm ấm, quần là áo lụa. Nói chung mỗi người có một niềm đam mê, kẻ thích tình cảm người thích quyền lực, người thích sưu tập nọ kia. Như vậy, ngay trong phiền não cũng là quẩn quanh của 6 căn và ngay trong chuyện tu hành cũng là quẩn quanh của 6 căn.

Chuyện này tôi thấy cũng đúng nè, người ta nói đàn ông yêu bằng mắt, đàn bà yêu bằng lỗ tai. Đàn ông ngó người khác phái chuyện đầu tiên thì phải có duyên, phải đẹp trước, chuyện khác tính sau, nhiều khi nàng ngu như bò nhưng có dáng, có nét, có form là ok. Còn nhiều khi đàn bà sẵn sàng yêu người lớn tuổi hơn họ, dù xấu xí cỡ nào, miễn là người đó có tài. Tài ở đây có hai nghĩa, tài sản hoặc tài năng, tài hoa. Ngay trong cái tham ái của vấn đề phái tính, chúng ta thấy lý do của tình yêu cũng có nhiều ngõ đi nói chi là trong chuyện tu hành, trong chuyện thích ghét này nọ, nhưng chỉ quẩn quanh trong 6 căn mà thôi.

Thậm chí còn có câu này “sỉ nhục” đàn ông:
-Con đường đi đến trái tim đàn ông phải thông qua bao tử.
Bây giờ già rồi tôi thấy đúng. Nói cho quí vị thương, từ sáng đến giờ tôi chỉ có miếng canh khoai cũ của ngày hôm qua, sáng nay hâm lại húp. Đói dữ lắm. Nói ra đau lòng, có lúc đang ngồi dịch kinh thèm nghe tiếng thỏ thẻ bên lưng “Sư ơi dùng trưa”, thèm buổi sáng mình đang đứng huơ huơ cái tay thì nghe “Sư ơi dùng sáng”. Thèm có bao nhiêu đó. Ông Dostoïevski, tác giả cuốn Tội Ác và Hình Phạt, một thời là danh gia nổi tiếng của Nga, ông có bà vợ không ra gì hết. Vợ ông tệ không kém vợ của Socrates. Ông có một câu đau lòng lắm:
-Tôi sẵn sàng đổi hết những gì tôi có, tiếng tăm tiền bạc uy tín… chỉ thèm được cảm giác vào mỗi buổi chiều có người đàn bà đứng ở cửa chờ tôi về ăn cơm tối.
Lại cũng vấn đề 6 căn.

Chúng ta đừng tưởng mình là trí thức, là thầy tu, là linh mục, là ông này bà nọ mà chạy ra khỏi 6 căn. Không có đâu, cứ quẩn quanh nhiêu đó thôi. Nhưng do cơ địa tâm lý của mỗi người khác nhau mà mỗi người có kiểu chìm đắm trong 6 trần khác nhau chứ thật ra không biết mèo nào hơn mỉu nào. Việc thu thúc lục căn rất là quan trọng, vì nó là toàn bộ đời sống của ta.

*

MŨI TÊN

(Chương 36: Tương Ưng Thọ / Phần I - Phẩm có kệ / 6. Với mũi tên)


Đức Phật dạy: Này các tỳ kheo, kẻ phàm phu cũng bị đau đớn về thân xác và vị thánh cũng có thể bị đau đớn về thân xác -- hữu thân hữu khổ, phàn nàn cùng ai. Nhưng này các tỳ kheo có sự khác biệt nào giữa phàm phu và thánh nhân, giữa một người không hiểu đạo và người liễu đạo khi cả hai đều trải qua những cơn đau, những thương tích giống nhau?

Ngài dạy rằng, đối với kẻ phàm phu khi cơ thể sinh lý có vấn đề thì lập tức cái tâm họ có vấn đề. Như vậy, kẻ phàm phu khi bị khổ thân thì sẽ bị khổ tâm giống như một người cùng lúc bị hai cái mũi tên. Ở đây Ngài chỉ nói một phương diện, nhưng tôi thấy phàm phu khổ tâm đã đành mà khi khổ tâm thì cũng có khổ thân nữa. Có những người do ghen tuông, lo nghĩ, sợ hãi, buồn phiền, họ bị ảnh hưởng rất nặng về thể xác. Khi sống mà ghen tuông lo nghĩ, buồn phiền nhiều rất dễ bị u xơ, dễ bị suy nhược thần kinh, dễ bị mất ngủ, suy nhược cơ thể. Có nhiều nguyên nhân bị đau da dày mà một trong những nguyên nhân đó là đời sống tinh thần có vấn đề. Phàm phu khi khổ tâm cũng có thể dẫn đến khổ thân và khi khổ thân chắc chắn dẫn đến khổ tâm.

Bậc thánh thì không có khổ tâm, ngay cả trường hợp trong kinh nói ngài Ānanda khóc khi Đức Phật Niết bàn, nhưng không phải ngài với mình giống nhau! Ngài quá thương kính Đức Phật, ngài là vị Tu-đà-hoàn nên vẫn còn khổ tâm, nhưng người để ngài nhỏ nước mắt không có nhiều như mình đâu. Ngài chỉ nhỏ nước mắt trong trường hợp chứng kiến cái chết của những người đã cùng với ngài vào ra sinh tử mấy trăm ngàn triệu tỷ kiếp luân hồi như bà Yasodhara, ngài Rāhula, bà Gotami, ngài Xá Lợi Phất thôi. Do sự biệt ly mà ngài khóc mà khóc một chút thôi, vì ngài là một vị thánh Tu-đà-hoàn không còn thân kiến nữa. Sự biệt ly đột ngột làm ngài bị sốc một chút vậy thôi.

Tôi nhớ có lần bà Visākhā là một đại thí chủ thời Phật, là vị thánh Tu-đà-hoàn, vào lạy Phật rồi khóc quá chừng. Đức Phật hỏi bà có chuyện gì mà đau lòng vậy. Bà nói bà khóc vì có một đứa cháu ngoan đẹp, thương mến vô cùng vừa chết.
Đức Phật hỏi bà: Visākhā nghĩ sao nếu cả thành phố này thành bà con của con hết, con có sung sướng hạnh phúc hay không?

Bà trả lời: Bạch Thế Tôn nếu vậy thì con rất vui mừng, đi đâu cũng gặp bà con quyến thuộc.

Đức Phật nói: Này Visākhā, nếu cả thành phố này đều là bà con thân thuộc của con hết thì ngày nào con cũng phải khóc hết, vì thành phố này ngày nào cũng có người chết.

Lòng của mình mà càng nặng nề, càng nhiều đối tượng để nắm níu chừng nào thì càng khổ thôi. Tôi mượn giọng Thánh kinh để nói kinh Phật: Phúc thay cho kẻ nào sống mà có quá ít những thương thích, phúc thay cho kẻ nào sống ở đời này mà có quá ít những cái ghét sợ.

Càng ít kỵ chừng nào càng an lạc chừng đó, càng ít đam mê chừng nào càng an lạc chừng đó, càng ít nhu cầu chừng nào càng an lạc chừng đó. Người ta nói rằng: Kẻ giàu nhất không phải là người muốn gì cũng được mà chính là người sống sao cũng được, môi trường nào cũng sống hạnh phúc.

Đó là những bài kệ bà con phải nhớ, mình vô minh quá, may mà có học đạo, biết Phật pháp mà còn sống không nổi theo những gì mình biết thì mai nay sanh ra làm trùn dế chó heo thì làm sao sống nổi. Rồi sanh ra may mắn làm người mà không biết Phật pháp thì thảm cỡ nào. Phải làm sao cho dù thân của mình có bị cái gì thì tâm cũng không bị ảnh hưởng. Với bậc thánh thì thân có bị thương tích bệnh hoạn thì cũng chỉ là một mũi tên chứ không tới hai mũi tên. Phàm phu mình thân có vấn đề thì tâm có vấn đề mà tâm có vấn đề thì thân có vấn đề.

Nhiều lần Đức Phật thăm bệnh những tỳ kheo, Ngài nhắc đi nhắc lại rằng:
-Hãy tâm niệm rằng dầu thân của ta có bệnh nhưng không để tâm của ta bị bệnh. Ta không sống trong ý niệm tôi, tôi là, của tôi.

Khi một người biết đây là khổ thọ, do duyên mà có, có rồi phải bị mất, người này chắc chắn sẽ an lạc bình tĩnh hơn người có quan niệm: tôi đang đau và có thể tôi sẽ chết, tôi sẽ bỏ lại bao nhiêu là tình thân, bao nhiêu là tài sản, bao nhiêu kỷ niệm trong cuộc đời này. Giữa hai người này chắc chắn người quán chiếu như thật sẽ ra đi trong niềm thanh thản an lạc. Còn người ra đi trong sự sợ hãi, tiếc nuối thì chắc chắn sẽ đau đớn. Bữa nay tôi muốn gởi quí vị một kinh nghiệm bằng vàng, hãy luôn luôn đọc câu thần chú này:

“Tôi sẽ chết trong sự chán chường chứ không chết trong sự tiếc nuối hay sợ hãi”.

Chán chường là sống bằng tâm niệm của một hành giả thường xuyên thấy rõ mọi thứ do duyên mà có, có rồi phải bị mất; thấy rằng hạnh phúc chỉ là mặt trái của đau khổ; thấy rằng mọi hạnh phúc chỉ là đau khổ; mọi đau khổ là mũi tên; mà tất cả cảm xúc đều vô thường. Tập hoài lâu ngày thì mình sẽ ra đi trong sự chán chường. Có những người đau quá họ chỉ muốn chết thôi, hình như cái chết của những người như vậy dễ chịu hơn cái chết của những người sợ hãi và tiếc nuối. Tôi cũng là một người đi đứng ít nhiều, khi tôi lìa bỏ một nơi nào đó nếu mà tôi lìa bỏ trong sự chán chường thì tôi thấy nhẹ lòng lắm, còn lìa bỏ nơi nào mà bằng sự tiếc thương thì tôi khổ cả tháng như có lần tôi rời Lệ Giang. Tôi cứ nghĩ biết bao giờ có dịp trở lại Lệ Giang. Mà sao cứ nhớ thương lạ lắm. Tôi thương nhớ Thượng Hải, Hàng Châu, Lệ Giang. Nhưng có những nơi mà tôi đi khỏi là tôi mừng muốn chết, tôi canh đồng hồ ra phi trường, khi máy bay cất cánh tôi thở phì muốn lủng cửa sổ máy bay. Có những người chào tạm biệt tôi, tôi ước sao con tàu đừng đi, và tôi ước thời gian quay trở lại để người ta còn ngồi trong nhà tôi, ngồi uống nước với tôi, cười nói với tôi, đừng lìa xa tôi. Và có những người chào để đi mà tôi mừng muốn chết, vì tôi chán họ quá. Nếu mai này mình lìa bỏ thân này bằng cảm giác ra đi trong nỗi chán chường như vậy sẽ tốt hơn là chết trong nỗi nhớ niềm thương, chết trong sự tiếc nuối sợ hãi. Muốn vậy thường ngày phải luôn sống trong sự quán chiếu: mọi hạnh phúc chỉ là đau khổ; mọi đau khổ chỉ là mũi tên; tất cả cảm xúc đều là vô thường.

*

KHÔNG THỂ NGHĨ ĐƯỢC

(Kinh Anguttara Nikaya)

Có bốn điều mà nghĩ tới mình chỉ có điên thôi. Chuyện rất đơn giản, là do sức của mình không tới. Yếu người không đi nắng, sức yếu không nên lội qua sông lớn. Bốn điều mà khả năng trí tuệ của chúng ta không thể nào đủ sức để cân đong đo lường được hết: (1) Cảnh giới trí tuệ của chư Phật. (2) Vấn đề nghiệp quả. (3) Cảnh giới thiền định. (4) Suy tư vớ vẩn về thế giới.

Tôi biết sẽ có người ngạc nhiên, bởi bốn cái này mình tu mình sẽ học, tại sao lại nói suy nghĩ sẽ điên?

1) Cảnh giới trí tuệ của chư Phật

Thứ nhất, chúng ta chỉ cần biết Thế Tôn là cái gì Ngài cũng biết. Lý do rất đơn giản là từ lúc Ngài sơ phát Bồ đề tâm, có đại nguyện trở thành Phật, từ đó trở đi Ngài phải trải qua một thời gian quá dài. Không có chuyện gì Ngài không từng gặp trong thời gian đó. Chỉ riêng cái khoản Ngài nhớ lại những chuyện Ngài đã gặp trong suốt thời gian tu ba-la-mật thì trên đời này không còn cái gì mà Ngài không biết. Nghĩa là với trí nhớ tiền kiếp của Ngài, Ngài chỉ cần nhớ những gì Ngài đã thấy, đã trải qua, đã kinh nghiệm, đã nếm trải trong suốt mấy chục a-tăng-kỳ thì trên đời này không có chuyện gì lạ lùng mà Ngài không biết.

Thứ hai, Ngài nắm được nguyên tắc chung, cho nên không có cái gì Ngài không biết. Trong kinh nói Ngài là bậc samantacakkhu (mắt thấy khắp muôn nơi: all-seeing); anāvaraṇañāṇa (vô ngại trí); sabbaññutañāṇa (trí toàn giác/ Omniscience: the capacity to know everything).

Mình chỉ biết tới đó thôi, chứ mình thắc mắc “Ngài biết như thế nào hở ta” thì chỉ phát điên thôi. Bởi vì Phật hiểu được ba điều kia nên trí Phật dĩ nhiên là bất khả tư nghì. Vì hiểu được những gì là bất khả tư nghì nên trí Phật đương nhiên là bất khả tư nghì.

2) Vấn đề nghiệp quả.

Hỷ là vui trong tâm; Lạc là sướng ngoài thân
Ưu là khổ trong tâm; Khổ là khó chịu ngoài thân
Cho nên việc ác dẫn đến khổ ưu, việc lành dẫn đến hỷ lạc.

Chỉ cần biết bao nhiêu đó thôi. Làm việc ác dầu bằng thân bằng ý thì sẽ tạo ra khổ ưu, tức khổ thân khổ tâm. Còn làm việc thiện thì dẫn đến hỷ lạc tức sướng thân, sướng tâm.

Hoặc biết thêm một ít nữa là làm lành với trí tuệ thì sanh ra là người có trí tuệ. Làm lành mà thiếu trí thì sanh ra làm người may mắn nhưng hơi khờ một chút. Làm lành với quy mô nào, với tính cách nào thì cái quả cũng tương ứng như vậy. Chứ còn mình đào xới sâu hơn, rộng hơn nữa thì mình hiểu không nổi.

Ví dụ có hai người cùng làm phước giống nhau, cùng cúng dường cho một đối tượng. Ông này cúng một trái chuối, ông kia cũng cúng một trái chuối. Ông này quỳ xuống lạy ba lạy, ông kia cũng quỳ xuống lạy đúng ba lạy. Cả hai giống nhau y chang nhưng cái quả lành đời sau chắc chắn là khác nhau. Vì sao? Vì trước khi hai người cúng dường trái chuối này, nền tảng tâm thức của hai người không giống nhau. Ngay lúc đó cả hai đều hoan hỷ giống nhau, đối tượng giống nhau, thời điểm giống nhau, vật cúng dường giống nhau nhưng nền tảng thiện ác của hai người không giống nhau nên khi trổ quả thì hai người này được hưởng hai quả không giống nhau. Mình chỉ biết tới đó chứ còn tại sao nó khác và khác như thế nào thì đến cả ngài Xá Lợi Phất cũng chỉ biết rất là hạn chế so với Thế Tôn.

Nghiệp báo là vấn đề bất khả tư nghì, mình chỉ biết đại khái thôi chứ còn đào xới là điên. Phật trí cũng vậy, mình cũng chỉ biết đại khái. Chính vì Thế Tôn tu quá lâu, cho nên chỉ khoản nhớ lại chuyện cũ, Túc mạng minh cũng đủ để cho Ngài biết hết tất cả mọi sự, có cái chi mà Ngài chưa từng trải qua. Nói chi là Ngài có Nhất thiết chủng trí, trí Toàn giác, Trí vô ngại.

(3) Cảnh giới thiền định.

Còn nói về cảnh giới của thiền định, mình chỉ cần biết đại khái thôi, kẻ nào chán dục, ly dục, không còn thích ghét trong năm trần sắc thinh khí vị xúc nữa thì kẻ đó mới có cơ may chứng thiền. Có chán dục mới đắc thiền, và thiền chính là Định học, là nền tảng để tu Tứ Niệm Xứ, là nền tảng cho Tuệ học để chấm dứt phiền não. Khả năng trấn áp phiền não của Thiền, của Định chỉ tương đối như đá đè cỏ, mình chỉ mượn cái lực của nó để tu Tứ Niệm Xứ rồi mới chứng đạo, cắt đứt phiền não kiểu đốn tận gốc, trốc tận rễ. Hiểu như vậy thôi. Chứ còn có những chuyện mà xé ra bà con chỉ có điên thôi.

Ví dụ một người đắc thiền với hai bàn tay trắng, vậy mà nếu muốn vị này có thể tạo ra hồ nước, lâu đài, núi non, sông hồ, kinh rạch, biển cả đại dương. Dựa vào đâu mà quí vị tin chuyện này có thiệt? Tâm lực rất vô biên! Nhưng vì chúng ta không có đắc thiền, chúng ta không học giáo lý, chúng ta không có ba-la-mật nên chuyện đắc thiền đã không được rồi, nói chi chuyện hình dung liên tưởng, chúng ta càng không có khả năng đó nữa. Chứ một người có ba-la-mật họ coi chuyện này rất là bình thường. Ờ, dĩ nhiên tâm phát triển tới mức tận cùng thì sẽ cho ra một cái lực tác động cực lớn. Trong vật chất cũng vậy, chúng ta thấy Uranium và Plutonium, hai chất làm bom nguyên tử, chỉ cần một ký lô thôi thì nó san phẳng cả một thành phố hàng triệu người trong đó. Quý vị tưởng tượng trong các thứ vật chất có thứ vật chất nào kinh dị như vậy không? Nếu chúng ta không biết tí ti gì về Plutonium, Uranium thì mình không có lường được các tàu ngầm, chiến hạm nguyên tử chạy ngoài khơi của Mỹ, của Nga có thể mấy năm trời không cần vào đất liền để tiếp nguyên liệu. Bởi những chiếc đó chạy bằng năng lượng hạt nhân. Nếu mình không biết những điều đó thì mình không thể nào hình dung ra được có một thứ năng lượng nào mạnh như vậy, lại nhỏ bé gọn gàng như vậy mà đủ để người ta tạo ra nguồn năng lượng vận hành chiếc tàu mấy chục tấn di chuyển ngoài khơi 1, 2 ,3 cho tới 10 năm trời mà không cần tiếp nhiên liệu.

Ở đây cũng vậy, cũng một miếng thủy tinh thôi mà khi người ta chế nó thành kính lúp, kính hội tụ. Chỉ cần đưa ra nắng gom nhiệt lượng của nắng mặt trời vào một điểm thì hoàn toàn có thể tạo ra lửa. Tâm mình cũng vậy, khi mình không tu hành gì hết tâm mình chỉ là miếng thủy tinh, miếng đít chai tầm thường thôi. Nhưng khi mình tu thiền thì miếng thủy tinh đó tạo thành thấu kính hội tụ.

Tâm ta suy yếu bất lực vì ta tiêu tốn năng lượng cho việc thích ghét năm dục. Khi không sống với năm dục nữa, ta toàn tâm tập trung vào đề mục thiền định thì toàn bộ nguồn năng lượng ấy được dồn hết cho các tầng thiền định và thần thông.
Điều đó cho thấy rằng cái tâm hưởng dục của mình nó bao la cỡ nào. Muốn biết nước VN mình thực lực tài chính giàu cỡ nào dễ lắm. Mình cứ đi đếm số tiền mấy trăm ngàn tỷ bị thục két, bị tham nhũng, bị rò rỉ. Cứ lấy số tiền đó ra, ngồi đếm số tiền đó mình có thể đếm được thực lực tài chính của nước VN mình. Ở đây cũng vậy, mình thấy một người đắc thiền đắc thông có thể tay không mà có thể tạo ra núi non rừng rậm, kinh rạch, sông ngòi, chim muông, người thú…, điều đó cho thấy rằng khi ta hưởng dục chúng ta đã tiêu tốn một nguồn năng lượng lớn cỡ nào. Mình chỉ biết tới đó thôi, chứ còn mình cứ đào sâu: “Sao ghê vậy ta? Tâm mình mạnh dữ vậy sao?”, nghĩ một hồi là điên luôn. Mình thích thì thiền không thích thì thôi. Thích thì kasina (những đề mục thiền) còn ghét thì casino (sòng bạc).

4) Suy tư vớ vẩn về thế giới.

Trong Chú giải ghi rõ những suy tư vớ vẩn đó là không biết tại sao mà cò trắng quạ đen, tại sao trên một miếng đất có mấy chục mét vuông mà có trái thì chua loét trái thì cay xè trái thì ngọt lịm, cũng mọc từ đó mà tại sao bông này màu tím bông kia màu hường màu trắng. Càng đào xới thì chỉ có điên thôi. Khoa học chỉ giải thích, trả lời cho chúng ta một đoạn đường thôi, còn đào nữa thì các nhà khoa học sẽ điên, sẽ cắn mình luôn. Họ chỉ cho biết tại sao mình bị loãng xương, chứ còn đào nữa tại sao thằng Tèo bị mà thằng Tý không bị, truy nữa, truy nữa thì bác sĩ chỉ điên. Ung thư cũng là bí mật sinh học. Trường hợp di truyền thì mình không tức, cái mình tức là cả dòng họ không ai bị ung thư mà tự nhiên lọt ra một người bị.

Có những chuyện trên đời này mà mình càng nghĩ là chỉ có điên thôi. Cho nên trong kinh gọi đó là ‘lokacintā’ tức là những suy tư vớ vẩn về thế giới này.

Trên đây là 4 điều bất khả tư nghì mà chúng ta chỉ biết đại khái thôi. Ví dụ như nói về thế giới mình chỉ cần biết là: Tất cả là do duyên nghiệp chúng sinh, tất cả là do tâm ý chúng sinh, tất cả là do điều kiện thiên nhiên tự có, bản chất pháp hành thì tự nó vận hành như vậy đó. Mình chỉ biết như vậy. Thôi thì phần mình ráng làm lành lánh dữ rồi quán chiếu sanh diệt để nếu còn có luân hồi nữa thì cũng luân hồi trong điều kiện tốt đẹp. Còn nếu đủ duyên chứng thánh thì thôi đi luôn không quay lui. Chỉ nhớ bao nhiêu đó thôi. Chứ còn ngồi suy tư riết là điên luôn. Chứ đừng có ban đêm nằm ngó lên trời thấy trời cao thăm thẳm, thấy tinh tú, thiên thể lấp lánh, mình không biết hết galaxy này còn tới cái gì nữa; không biết đâu là biên tế, bờ mé, tận cùng. Nghĩ như vậy là điên. Rồi nghĩ, không biết ai là người đầu tiên trên trái đất này, không biết cái loài nào có mặt trước v.v... Dĩ nhiên thuyết Darwin là thuyết tào lao, đừng có bận tâm. Có một thời bao nhiêu kẻ làm chính trị, bao nhiêu kẻ làm khoa học đã vin vào Charles Darwin nhưng bây giờ đã ngộ ra đó là thuyết tào lao, thuyết tiến hóa đó là không có thật. Chuyển đổi gene thì có, nhưng còn toàn bộ học thuyết đó phải xét lại. Học thuyết đó không phải là câu trả lời tốt nhất cho câu hỏi vì đâu muôn loài có mặt trên hành tinh này.

Bài kinh này cho chúng ta hai bài học lớn:
- Cảnh báo cho chúng ta biết rằng có bốn vấn đề mà chúng ta chỉ cần biết căn bản đại khái thôi, đào bới thêm chỉ có điên.
- Bài học thứ hai nằm đằng sau bài học thứ nhất, đó là: Chúng ta chỉ có thời gian cho cái cần chứ không có thời gian cho cái chúng ta thích. Chúng ta muốn biết này biết nọ thì tự hỏi lòng mình cái đó có cần thiết lắm không.

*

MẠNG XÃ HỘI VÀ SỰ TU TẬP

(Trích Những bài giảng Kinh Tương Ưng - TK Giác Nguyên)

🌼 Dòng sinh tử của mình cũng cần đến nguồn tiếp liệu, một sợi tóc, một đoạn ngắn móng tay của mình cũng phải từng giây đón nhận những nguồn tiếp liệu để tóc, móng tay của mình mỗi ngày dài ra. Những nỗi khổ niềm đau cũng cần có nguồn tiếp liệu. Ví dụ, email, sáng nay mình thức dậy mở email thấy vui, email cũng là nguồn tiếp liệu cho nguồn vui trước mắt. Sáng nay một cú phone làm cho mình khó chịu, cú phone đó chính là thực phẩm, nguồn tiếp liệu dưỡng tố cho sự khó chịu đó. Như vậy thì một câu nói, một ánh mắt, một nụ cười, một trang sách, một website, một email, một tin nhắn trên facebook, viber đều là nguồn tiếp liệu cho nỗi khổ niềm đau. (Bài kinh CÁC LOẠI ĐỒ ĂN)

🌼Muốn dành thời gian tu tứ vô lượng tâm thì phải mất ít nhất một năm, cắt đứt mọi mối quan hệ, trong lòng không còn một ý niệm nào về những mối quan hệ cũ. Trong sự nguội lạnh đó mới tu tập được tứ vô lượng tâm hay tứ niệm xứ. Trong đời sống này ít nhất phải có 3 năm tứ niệm xứ, 3 năm tứ vô lượng tâm thì chết không cần cầu siêu. Quý vị phải có gan cắt đứt quan hệ, đừng có hòng cho rằng mình có bản lãnh...v.v. Trong 1000 emails thì có một ít trong đó thật sự cần thiết, nhưng không có mối quan hệ nào cần thiết ngoại trừ hai mối quan hệ sau: (1) Cha mẹ cần sự hỗ trợ của mình (2) Người nào giúp cho thiện pháp của mình được tăng trưởng được phát triển. (Bài kinh ĐỆ TỬ NỘI TRÚ)

🌼Năm nay tôi già rồi, gần 50, mới ngộ ra một điều, tại sao tôi thường xuyên sống bực mình suốt “mùa thu cách mạng”, tôi ngộ ra, ngày nào trên tay mình còn có cục a lô, ngày nào còn check email là còn bực mình, ngày nào còn gặp ông Tám bà Tư là ngày đó còn khổ. Tôi phát hiện một điều đó là bà con muốn tu thiền chỉ, thiền quán, đặc biệt là tu tâm từ, thì chuyện đầu tiên là cắt đứt mọi quan hệ với thiên hạ kể cả người thân thiết nhất (cha, mẹ, vợ chồng, con cái, thầy tổ…) chỉ nên gặp người nào mà họ giúp cho mình công phu tu tập trước mắt, còn sự có mặt nào không giúp được gì thì làm ơn né. Còn cầm cục alô, còn trả lời email, còn có facebook, paltalk, skype thì tôi xin hứa một ngàn hai trăm phần trăm đừng hòng nói chuyện tu tâm. Chánh ngữ vô cùng quan trọng, hễ thấy đề tài tào lao là làm ơn cắt ngay. (Bài kinh MƯỜI CHI)

🌼Tứ niệm xứ là cho mình sự buông bỏ thật sự những cái gì gọi là gánh nặng của đời sống. Trước khi thành thánh đắc cái này đắc cái kia, việc đầu tiên tu tứ niệm xứ. Đời sống tỉnh thức cho phép mình một sự tự tại, sự an lạc mà mình nhận ra được nhiều chuyện lạ, thì ra áo quần giày dép không cần hơn một tủ, xe không cần mỗi năm đổi một chiếc, thì ra mình không cần phải alô, email, facebook, chit chat nhiều như vậy, đời sống mình không cần phải lệ thuộc nhiều người xung quanh như vậy. Nhờ những cái “thì ra” này một ngày nào đó mình đi không nổi, bị stroke (đột quỵ) nằm liệt giường lúc đó mới thấy không đáng sợ như những người khác. Có những người khi bị stroke thì đời họ kết thúc, họ chỉ muốn chết thôi, vì đời họ không từng sống qua tâm trạng của một hành giả nên khi bị mất mát họ chịu không nổi, tới lúc hấp hối họ mới biết sợ hãi và tiếc nuối. (Bài kinh KASSAPA)

🌼Có chút kinh nghiệm này chia sẻ với quí vị: Còn đam mê trong liên lạc thiên hạ thì còn gánh lửa từ cuộc đời. Trong 100 cú phone, 100 emails trong đó chỉ có 10 cái thật sự cần thiết, hữu ích nâng cao đời sống tinh thần của mình, 90 % những cái còn lại dù là hỏi thăm đi nữa vẫn phiền phức, cần phải có cái gan, liếc thấy tào lao là xóa cái rẹt, đừng có tò mò. Thắng được mình trong những trận địa nho nhỏ này cũng gọi là gan - can đảm, anh hùng ghê gớm. (Bài kinh THẾ GIỚI)

🌼Có vị thiên nữ tên Jàlinii, trước kiếp chót của ngài Anuruddha, bà là vợ ngài, nên khi gặp lại bà rất là thương, thương mãnh liệt. Mỗi ngày bà quét dọn phòng của ngài, cúng dường thức ăn cho ngài. Bà cúng dường y áo cho ngài bằng cách dùng thần thông tạo ra những tấm vải. Vị thiên nữ này cứ lảng vảng giúp đỡ ngài. Một ngày kia ngài thấy đã đến lúc phải nhắc nhở. Ngài nghĩ ngài sẽ giúp vị thiên nữ này đừng nuôi tâm nguyện như vậy nữa và ngài chờ dịp. Bữa đó vị thiên nữ gặp ngài và nói: Thưa ngài, ngài cần cái gì, ngài muốn bất cứ cái gì thì con cũng sẽ tạo ra cho ngài. Ngài trả lời: Hãy biến mình bằng nhiều màu sắc khác nhau. Thế là vị thiên nữ mừng lắm, thế là rùng mình một cái, xuất hiện trong bộ trang phục màu vàng, rồi trộn lại màu xanh pha màu tím, hồng phấn, mỡ gà …vv. Rồi bà nhìn ngài thì thấy ngài nhắm nghiền đôi mắt và không màng gì hết. Thấy vậy, thiên nữ nhàm chán và bỏ đi.

Người ta đến với mình mà mình không mở cửa thì khách nào cũng bỏ đi. Một trong những cách tự vệ tốt nhất của Sa-môn đó là đóng cửa. Đóng cửa ở đây không có nghĩa là xô đẩy, từ chối, xua đuổi người ta mà là thái độ của mình làm người ta chán. Ví dụ trên facebook, email, phone mà liên lạc với mình hoài mà không thấy mình trả lời người ta cũng buông. Có qua có lại mới dằng dai. (Bài kinh ANURUDDHA)

*

TẠNG A TỲ ĐÀM

(Giảng tại Dallas 21,22-10-2016)

I) Tạng Luật: Những quy định của Đức Phật về những gì tăng ni nên làm và không nên làm.

II) Tạng Kinh: Nội dung Tứ Diệu Đế được thuyết giảng qua nhiều cách khác nhau, cho những đối tượng khác nhau, với cách trình bày gần gũi nhất, dễ hiểu nhất cho tất cả những đối tượng hữu duyên mà Đức Phật gặp trên đường du hóa.

Tứ Diệu Đế: Bốn sự thật trên đời này
1. Khổ Đế - Tất cả mọi hiện hữu trên đời đều là khổ.
2. Nếu mọi thứ ở đời là khổ thì chúng ta thích cái gì cũng là thích trong cái khổ (Tập đế).
3. Nếu muốn hết khổ thì phải chán những gì đã đam mê (Đạo đế). Đạo đế ở đây là một cách gọi khác của Tứ Niệm Xứ.
4. Khi sự chán đúng mức thì sẽ dẫn đến sự chứng ngộ - giải thoát - niết bàn (đây chính là diệt đế).

III) Tạng A Tỳ Đàm: Là nội dung Tứ Diệu Đế được trìng bày theo cách chuyên môn nhất, rốt ráo nhất, bằng những khái niệm và từ ngữ khá xa lạ để hướng người nghe lên một tầm nhận thức mới. Như một người chắc chắn sẽ có hai cảm nhận khác nhau khi nghe từ NƯỚC và H2O.
Như ở Tạng Kinh Phật dạy một người thiện nam hay tín nữ nỗ lực làm lành lánh dữ để không bị đọa và được sinh về nhân - thiên, nếu đủ duyên thì được giải thoát sinh tử.
Nhưng ở Tạng A Tỳ Đàm thì Phật lại dạy khác: khi 6 căn biết 6 trần bằng tâm lành thì sẽ tạo ra 6 căn biết 6 trần như ý. Nếu đủ duyên thì trong tương lai sẽ không còn 6 căn tái hiện nữa.

Toàn bộ sự hiện hữu của những gì mà ta vẫn gọi là chúng sanh, vũ trụ, gồm cả phàm, thánh, siêu, đọa, đều nằm gọn trong sự có mặt và sự hoạt động của 6 căn, 6 trần. Từ vô thỉ luân hồi tất cả phàm phu đều sinh tử theo công thức đơn giản này:
- 6 căn biết 6 trần bằng tâm lành thì đời sau kiếp khác sinh ra với 6 căn biết 6 trần như ý.
- Trường hợp thứ hai là có kẻ dùng 6 căn biết 6 trần bằng tâm bất thiện thì đời sau kiếp khác sinh ra sẽ có mặt với 6 căn biết 6 trần bất toại.

Hai trường hợp trên đây được gọi theo ngôn ngữ thông thường lá SIÊU và ĐỌA.

Từ vô lượng kiếp chúng ta hết siêu lại đọa, hết đọa lại siêu. Phật ra đời dạy cho ta thấy rằng sự quẩn quanh trong vòng tròn siêu đọa ấy chỉ là sự lặp lại buồn tẻ và vô vị, nên Ngài đã dạy cho ta thấy ra những sự thật mà bao đời nay ta chưa từng có lúc nhận ra. Đó là Tứ Diệu Đế, đó là mối tương quan giữa 6 căn với 6 trần, với thiện ác.

Tạng Kinh là lời Phật được trình bày theo cách gần gũi nhất với lối nghĩ của đa phần chúng sinh. Tạng A Tỳ Đàm vẫn là về những sự thật ấy nhưng vói một cách nói trừu tượng hơn, rốt ráo hơn, cách nói vốn thích hợp với những người không chịu suy nghĩ theo lối thường thức.

Đức Phật thuyết Pháp cho chúng sinh tùy theo căn cơ của mỗi người:

- Với một vị vua mới mất người vợ yêu quý, Đức Phật thuyết: Thương yêu sanh sầu muộn, thương yêu sanh lo sợ. Với người không còn thương yêu nữa thì sẽ không có sầu muộn, không có lo sợ. Người đó nghe xong lập tức đắc đạo.

- Một vị vua khác mất đứa con trai duy nhất, Đức Phật thuyết: Từ đâu ta có khổ? Vì ta có mặt trên đời này mà ta khổ. Vì đâu ta có mặt trên đời? Vì ta có sự tái sanh. Vì đâu có sự tái sanh? Vì có nghiệp tái sanh. Vì đâu có nghiệp tái sanh? Vì có tham ái. Vì đâu có tham ái? Vì ta có 6 căn. Vì đâu ta có 6 căn? Vì kiếp xưa ta đã từng đam mê trong 6 trần. Vì kiếp xưa có 6 căn và đam mê trong 6 trần nên đời này ta mới có 6 căn tiếp tục, từ đó có thương phải xa, ghét phải gần, muốn không được...

- Một người khác đang rất đau khổ, Đức Phật thuyết: Mọi hiện hữu chỉ là sự có mặt của Danh Sắc. Buồn vui cũng là sự hiện hữu của danh sắc. Đủ duyên thì danh sắc có mặt. Đủ duyên thì buồn vui có mặt. Đủ duyên thì danh sắc biến mất. Đủ duyên thì buồn vui biến mất.

Hồi đó đến giờ mình khổ vì mình nghĩ mình là cái gì đó. Khi mình nghĩ mình LÀ cái gì đó thì nảy ra mình CÓ cái gì đó. Khi nghĩ mình LÀ cái gì đó, thì ta đã trở thành tấm bia cho những chuyện đời buồn vui nó bắn vào. Khi nào thấy được mình chỉ là những chấm nhỏ mà không phải một tấm bia, thì ta sẽ không còn hứng chịu chuyện đời buồn vui nữa.

Người phàm phu không thấy đời là vô thường vì nghĩ đời là một đường thẳng, trong khi nó chỉ là một tập hợp những dấu chấm thiện-ác-vui-buồn-trẻ-già-đẹp-xấu-khoẻ-đau... Không thấy mọi sự là khổ vì bị ám ảnh bởi những tư thế sinh hoạt tiếp nối nhau tạo ra ảo tưởng dễ chịu, hạnh phúc tiếp nối nhau (sự dễ chịu thay thế sự khó chịu và ngược lại)...

- -
sư Giác Nguyên

Bài giảng ngày 2-1-2018 của sư Giác Nguyên
#NhậtKýChépBằngKinh , #SưGiácNguyên

MỤC LỤC

Những nữ đệ tử xuất sắc của Đức Phật (Bài giảng ngày 2-1-2018)
Trưởng lão ni nandā
Tỳ kheo ni sonā
Tỳ kheo ni bakulā
Tỳ kheo ni kundalakesā
Bhaddākāpilāni
Bhaddakaccānā
Kisāgotamī
Singālakamātā

Các vị thiện nam xuất sắc của Đức Phật
Tapassu, Bhallikā
Sudatta Anāthapindika

Tản mạn



-ooOoo-


XIV. PHẨM NGƯỜI TỐI THẮNG (tt8)


Trưởng lão ni nandā


“6. Trong các vị nữ đệ tử... tu Thiền, tối thắng là Nandà.”

Thưa quí vị, chiều nay mình học tiếp, cuộc đời của trưởng lão ni Nandā. Trưởng lão ni Nandā là em ruột của ngài Nanda - người em cùng cha khác mẹ với thái tử Tất Đạt - con ruột của Kiều Đàm di mẫu. Nandā là một kiều nữ sắc nước hương trời. Sau khi toàn bộ quí bà mệnh phụ phu nhân hàng đầu của hoàng tộc Thích Ca (trong đó có bà Gotamī, có bà Yasodharā) đi xuất gia hết, thì nàng cũng đi xuất gia. Nhưng vì nàng quá đẹp và có điểm giống như nàng Khemā là xuất thân danh giá và có nhan sắc thiên kiều bá mị nên nàng có cái tôi rất lớn. Nàng đi xuất gia nhưng nàng ngại gặp Đức Phật. Bởi vì nàng nghe kể lại là Đức Phật có những pháp thoại có nội dung về sự bất tịnh của thân xác và hình như trong giáo pháp của Ngài không có chỗ nào trang trọng cho nhan sắc nữ giới nên nàng ngại không muốn gặp Thế Tôn. Nhưng đã là người xuất gia thì cũng có lúc gặp Đức Phật chứ đâu thể tránh hoài được, và Đức Phật xét thấy duyên lành giác ngộ của nàng đến lúc chín muồi nên Ngài dùng cách mà Ngài đã độ cho nàng Khemā.

Khi tỳ kheo ni Nandā đến hầu Ngài thì Ngài dùng thần thông tạo ra một mỹ nữ đứng quạt hầu cho Ngài. Nàng không nghe pháp mà cứ nhìn cô mỹ nữ đó, một lát sau thì cô mỹ nữ đó từ một người trẻ tuổi trong từng phút từng phút trở thành một bà lão cằn cỗi héo tàn. Nàng nhìn mà kinh cảm; nhân đó Đức Thế Tôn thuyết pháp. Trong sự kinh cảm đó, nghe pháp xong là nàng chứng quả La-Hán. Sau khi chứng quả thì nàng có biệt hạnh là thường xuyên nhập định. Phần lớn thời gian trong ngày và trong đời của nàng là nhập định. Nhân sở trường này của nàng, một ngày kia trước mặt đại chúng, Đức Phật đã tuyên dương: “Trong đệ tử tỳ kheo ni của ta, tỳ kheo ni Nandā là vị đệ nhất trong các thiền giả thường xuyên sống trong thiền.” [ ‘Jhānābhiratā’: người thích thú hoan hỷ trong thiền định.]

Đó cũng là một cái hạnh, có người thích hạnh này, có người thích hạnh kia nhưng khi chúng ta ôn kỹ lại biệt hạnh của các bậc thánh tăng ni sẽ thấy tất cả các hạnh đều nằm trong hai trường hợp sau đây: 1.Do phước xưa 2. Do luyện tập nhiều đời.

Do phước xưa:ví dụ đệ nhất tài lộc, kiếp này ngài không cần làm gì hết tự nhiên cũng có; hoặc phước vô bệnh, không cần làm gì hết tự nhiên cơ thể khỏe mạnh khang kiện; hoặc phước được chư thiên ái kính, ngài không làm gì hết, chỉ đi tu hành đắc đạo rồi tự nhiên trở thành nhân vật được chư thiên ái kính.

Do luyện tập nhiều đời:ví dụ đệ nhất trí tuệ, đệ nhất đa văn, đệ nhất đầu đà, đệ nhất thần thông… đều do nỗ lực của đời xưa và cũng phải do đời này nữa.

Trường hợp của nàng Nandā thì cũng phải do luyện tập, nghĩa là sau khi chứng đạo rồi thì nàng phải như thế nào mới được Thế Tôn tuyên dương là Đệ nhất thiền giả, tức là thường xuyên nhập định, nhiều nhất so với các vị tỳ kheo ni khác. Phải nói hình ảnh một vị thánh ni thường xuyên nhập định cũng là một tấm gương sáng cho hậu tấn đời sau thấy rằng không có một pháp nào đáng để cho một người tu hành an trú hơn là thiền định, dù đó là Thiền Chỉ hay Thiền Quán. Bởi vì thế giới này là thế giới của 6 trần, suy đi xét lại không có trần nào đáng để cho mình sống chìm sâu trong đó hết. Bất đắc dĩ, khi chứng rồi mà chưa đến duyên niết-bàn thì phải làm sao, thế là vị đó sống an trú trong cái gì sạch sẽ nhất, an toàn nhất và dễ làm gương sáng cho chúng sanh nhất. Ngoại trừ những vị đi hoằng pháp như Đệ nhất pháp sư, Đệ nhất trì luật, Đệ nhất dàn xếp trú xứ, tăng chúng, Đệ nhất trong việc dàn xếp cư sĩ v.v... thì một vị A-la-hán thường xuyên trú thiền cũng là một kiểu nêu gương cho đời.

^^^

Tỳ kheo ni sonā


“7. Trong các vị nữ đệ tử... tinh cần tinh tấn, tối thắng là Soṇā.”

Cuộc đời về tỳ kheo ni Soṇā là một câu chuyện buồn. Buồn nhưng mà đẹp. Buồn là vì bà xuất thân là một người cũng có chồng có con, cũng có một cuộc đời giàu sang phú quý nhưng rồi đến tuổi già thì con cái sau khi được chia gia tài rồi họ thấy không lý do gì chăm sóc một bà cụ lọm khọm nay bệnh mai đau, người này đẩy cho người kia, người kia đẩy cho người nọ, đẩy qua đẩy lại rồi cuối cùng không ai nuôi bà hết.

Chuyện này cũng không phải là chuyện lạ, thời nay cũng có chứ không phải là không; một đời tuổi trẻ lo cho con, lo cho cháu nội, có người lo cho cả cháu cố nữa cũng rơi vào hoàn cảnh như vậy. Tôi là người xuất gia mà nói những điều này giống như chọt cho quí vị “bị cháy nhà” thì không nên, nhưng đang kể tích này thì cũng phải nói luôn.

Cái bậy nhất của mình là không giữ lại cái gì cho mình. Làm phước thì làm phước, lo cho con thì lo cho con, nhưng phải nhớ rằng ngoại trừ Phật pháp, không có một cái gì làm điểm tựa cho chúng ta trong cuộc đời hơn là tiền bạc.

Bởi vì có tiền rồi thì mình nói chuyện được với đủ thứ người. Có người mình chỉ cần một ít tiền là nói chuyện được với họ, có người mình cần nhiều hơn một chút và có người mình cần phải xài một số tiền lớn thì mới dễ nói chuyện; đó là nói theo quan điểm thế gian.

Chứ mình cứ một lòng một dạ tin mình thương con thì con nó sẽ thương mình thì suy nghĩ đó hơi thiếu cơ sở. Vì sao, vì con gái sẽ nghe lời chồng, con trai sẽ nghe lời vợ, mà rể dâu là người dưng. Chưa kể là con mình khi lớn lên sẽ thương con của nó chứ đâu có thương mình.

Chuyện trông đợi con có hiếu thì tôi xin nói trước, đó là sự trông đợi rất mạo hiểm, chỉ 50% thôi. Vì 50% kia là nó dành tâm tư tình cảm công sức cho con của nó chứ không dành cho mình. Trong room này ai có con chí hiếu thì tôi long trọng chúc mừng, chứ tôi nói thiệt, khả năng con thương cha mẹ hơn thương con của nó thì hơi thấp.

Bà Soṇā chưa biết chuyện này, bà giao hết cho con, nên khi bà chỉ còn hai bàn tay trắng thì các cô cậu bèn trở mặt. Trong tuổi già cô đơn quạnh hiu ấy bà chợt nghĩ đến chùa. Bà nghĩ cửa Phật từ bi bao giờ cũng rộng mở cho những cảnh đời cơ nhỡ như mình nên bà vô ni viện xin xuất gia. Thế rồi bà học thêm bài học thứ hai mà bà không có ngờ. Không phải ai trong chùa cũng từ bi. Vô chùa là phải có đại thí chủ gởi gắm, hay phải có thân thế gia đình thì may ra chứ tự nhiên xách bị vô chùa cộng với tuổi già hom hem nhếch nhác thì cũng hơi khó, nhất là khi gặp toàn là phàm phu. Người ta cũng thương tình cho bà tu nhưng đẩy bà vào thế Osin già, cái gì dơ, nặng, mất công, tốn thời gian thì đẩy cho bà. Chỉ chừng đó thôi, còn tất cả đặc ân đặc quyền đặc lợi gì thì không có phần bà.

Một ngày kia các tỳ kheo ni phàm phu được người ta mời đi trai tăng. Lẽ ra với tinh thần lợi hòa đồng quân thì ai cũng được đi hết nhưng họ thấy bà kinh kệ thì không có nên cho ở nhà làm tạp dịch. Trước khi đi họ có dặn: “Tụi này đi trai tăng xong về thì phải có nước nóng để tắm chứ đi xa về mệt khó ngủ trưa lắm.” Họ dặn bà ở nhà xách nước. Ni trẻ thì đông quá mà bà thì chỉ có một cái thân già, xách bao nhiêu cho đủ. Loay hoay làm sao không biết bà té ngã gãy xương chân. Trong lúc gãy xương đau quá, bà lấy cái đau đó làm đề mục niệm xứ và đắc một lèo Lục thông, Bốn trí vô ngại, bà ngồi nhập thiền luôn.

Những tỳ kheo ni kia trai tăng về rồi đi tắm, thấy bà cụ hom hem nhếch nhác ngồi lim dim, xung quanh thì thùng một nơi quang gánh một nẻo, nước bắn tung tóe. Họ trách: “Bà già này nhờ một việc không nên thân còn báo đời báo đạo nữa, một chút xíu nước nóng tắm cũng không có nữa.” Bà nghe như vậy thì chỉ tay ra bồn nước:
“Cần nước sôi thì ngoài đó có kìa.” Bà chỉ tay một cái là ngoài đó đầy ắp nước lạnh để pha và nước nóng khói lên nghi ngút. Họ hết hồn, tưởng bà là phù thủy, là Dạ xoa.

Trong đó có người biết chuyện thì biết bà đắc đạo đắc thiền rồi. Trong vòng ba giây sau thì chuyện đến tai Đức Phật. Đức Phật xác chứng rằng:
“Trong đệ tử của ta, nếu nói Đệ nhất tinh tấn thì phải nói đây chính là người đệ nhất tinh tấn. Tuổi già, nhẫn nhục, chịu đựng, không than trách một lời, trong chừng đó thời gian mà chu toàn bao nhiêu chuyện tạp dịch cho ni viện, không sơ thất tắc trách. Đã vậy ngay trong cơn đau đớn của thân xác lại vẫn lấy đó làm đề mục tu tập thì phải nói là có một không hai. Cho nên xét tiền duyên nguyện cũ của nàng trong kiếp trước, bây giờ ta xác nhận đây là tỳ kheo ni hạng nhất trong đạo của ta về hạnh tinh tấn.”

^^^

Tỳ kheo ni bakulā


“8. Trong các vị nữ đệ tử... thiên nhãn, tối thắng là Sakulā.”

Trong Chú giải chỉ kể vắn tắt, ở đây tôi cũng xin nói thêm. Bà con vào Google gõ mấy chữ “Chú giải Pháp cú”. Xem hai bản dịch, bản dịch của HT Pháp Minh hoặc của Thiền viện Viên Chiếu. Tại sao tôi giới thiệu hai bản dịch này? Đây là hai bản dịch được xem là sáng sủa nhất, giống tiếng Việt cho người Việt nhất, còn các bản dịch khác thì tha hồ có vấn đề. Chẳng hạn như trưa nay tôi đi tìm cho quí vị đọc, chớ bây giờ kể thì nhiều cái lê thê lại có chút phong thần nữa, để quí vị tự xem thì tốt hơn. Tôi không có ngờ là trong đó có một bản dịch động trời như thế này:

“Ông ngoại của Visākhā được xem là ông triệu phú Ram.” Tôi ngạc nhiên, tiếng Việt không ra tiếng Việt, tiếng Pāḷi không ra tiếng Pāḷi, vậy triệu phú Ram là cái gì? Lúc đó tôi mới chợt nhớ ra là ông ngoại của nàng Visākhā tên là Mendaka, Mendaka nghĩa là con cừu, trong bản tiếng Anh là Ram. Không biết vì sao người ta không dịch mà lại kêu ổng là triệu phú Ram. Tôi… đuối luôn. Trường hợp này quí vị mà gặp đừng có lạ. Sẵn ở đây tôi cũng cho quí vị biết luôn là trên internet có những bản dịch rất là thú vị, ví dụ chữ ‘Dhamma’ (pháp) họ dịch là ‘nước Pháp’; ‘Guna’ (ân đức) họ dịch là ‘Germany’. Nếu quí vị muốn thưởng thức những bản kinh này thì không khó, cứ lấy hai hàng: “dhamma france / guna germany” bỏ vào Google thì nó sẽ dắt quí vị tới một trang blog rất là thú vị. Tôi tình cờ gặp mà giựt mình. Internet đúng hệt như lời của cụ Nguyễn Du, “Trăm năm … Google”, thượng vàng hạ cám cái gì cũng có hết. Vì vậy chúng tôi xin nghiêm cẩn đề nghị chỉ chú ý đến hai bản dịch, của HT Pháp Minh và của Thiền viện Viên Chiếu. Đây là hai bản dịch ok, thấy hay nên chúng tôi giới thiệu. Tôi nôn nóng trông đi qua phần giáo lý mới hấp dẫn chứ phần kể chuyện này thì bà con có thể lục tìm đọc được.

Nàng Bakulā này cũng có một trăm ngàn đại kiếp tu tập ba-la-mật, đến đời Đức Phật của mình thì nàng sanh làm cô tiểu thư rồi đi xuất gia, chứng Lục thông, chỉ vậy thôi. Lục thông gồm có thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm thông, túc mạng thông, biến hóa thông, lậu tận thông. Nói đến Lục thông thì La-Hán nào cũng có khả năng giống nhau nhưng sở dĩ nói là Đệ nhất bởi vì hai lý do: 1.Vị đó chuyên sống trong đó. 2.Khả năng này không ai bì được. Trong kinh chỉ kể vắn tắt là bà Bakulā chứng Lục thông rồi thì cũng như các vị La-Hán, nhưng sở trường của bà là có thể thấy xa, thấy nhiều và thấy nhanh hơn những vị khác.

Vì sao có chuyện thấy nhanh? Theo Chú giải, ví dụ như Túc mạng minh, vị nào kém thì thấy theo kiểu dò giống như xách đèn dầu đi từng bước từng bước mà rọi, “đây là hoa lý hoa ngâu, không bằng hoa bưởi thơm lâu dịu dàng”, còn thấy nhiều thấy nhanh thì giống như rọi đèn pin. Ngài Anuruddha đệ nhất thiên nhãn, có thể nhìn thấy vô số (vô số tức là nhiều chứ không phải vô lượng vô biên như chư Phật) hệ mặt trời với tốc độ rất nhanh, cần là thấy. Ví dụ như ngài muốn biết chuyện này ngoài nơi đây thì nó có thể có ở vũ trụ thế giới khác hay không, là trong tích tắc ngài thấy ngay một cách tường tận.

Trong các biệt hạnh thánh nhân của các đệ tử Thanh văn của Đức Phật, tôi mê đệ nhất trí tuệ, đệ nhất thiên nhãn, đệ nhất luận nghĩa, đệ nhất vô bịnh. Dĩ nhiên đâu có vị nào “gồm thâu lục quốc” đâu nên mỗi vị chỉ được có một thứ.

^^^

Tỳ kheo ni kundalakesā


“9. Trong các vị nữ đệ tử... có thắng trí mau lẹ, tối thắng là Bhaddā Kundalakesā.”

‘Kesā’: tóc; ‘Kuṇḍala’: xoắn, uốn cong; ‘Kundalakesā’: nàng tóc xoăn. Giống như Xuân tóc đỏ của Vũ Trọng Phụng vậy.

Bà cũng có 100 ngàn đại kiếp huân tu ba-la-mật với hạnh nguyện trở thành đệ nhất tốc chứng như ngài Bāhiya bên tăng. Nghĩa là không cần nghe nhiều, chỉ cần nghe sơ qua một phát là chứng.

Có bốn hạng người trong Phật pháp: (1) Ugghatitaññu: Nghe một câu đã chứng. (2) Vipañcitaññu: Nghe hết một pháp thoại đầy đủ mới chứng. (3) Neyyo: Phải được hướng dẫn hành trì từng bước mới chứng. (4) Padaparamo: Giỏi lắm cũng chỉ là một pháp sư Tam tạng. (Pada: từ chương, chữ nghĩa; paramo: maximum.)

Hạng (1) Ugghatitaññu (nghe một câu đã chứng) chia ra nhiều cấp. Có vị nghe xong thì đắc một lèo lên tới La-Hán, hoặc đắc từng bậc Sơ, Nhị, Tam, Tứ quả. Có người đắc chậm vì thiếu trí, có người đắc chậm vì quá nhiều trí như vua đi đâu phải chuẩn bị nhiều hơn một người nghèo (đây là kinh nói chứ không phải tôi nói). Người nghèo thì một ba lô, một chai nước, một nắm cơm vắt muối mè; hoặc nếu như ở bên Tây thì một khúc bánh mì, một trái táo, một chai nước suối là xong. Còn nếu mình là một triệu phú thì khi đi đâu thì nào là vệ sĩ, ôsin, thú nuôi, thú cưng…; vali hành lý thì vài chục, cồng kềnh rườm rà lắm. Trong Chú giải Pháp Cú nói Ngài Xá Lợi Phất nghe một câu là đắc liền vì ngài là người nhanh trí, nhưng mất hai tuần sau ngài mới chứng La-Hán, sự chậm này là do ngài nhiều trí.

Sau một trăm ngàn đại kiếp tu hành, đến đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nàng Kundalakesā cũng có đầy đủ phước báo nên sanh ra trong một gia đình giàu sang phú quí. Tôi chỉ kể vắn tắt thôi. Nàng đẹp người đẹp nết, con nhà giàu, đủ điều kiện để lấy chồng công hầu khanh tướng. Nhưng một ngày kia nàng đang đứng trên lầu cao nhìn xuống thì thấy người ta đang dẫn ra pháp trường để chém đầu một tên cướp “râu hùm hàm én mày ngài, vai năm tấc rộng thân mười thước cao” giống như Từ Hải. Y như Từ Hải bị Hồ Tôn Hiến giăng bẫy. Nàng thấy hình tướng của ‘Từ Hải’ này là chịu không nổi, cái tình của kiếp xưa mà. Thế là nàng chạy xuống năn nỉ ỉ ôi với cha già bằng mọi giá “đi cửa sau” với nhà chức trách để thả người này ra, tức là bỏ tiền ra mua mạng.

Từ một người chân trong chân ngoài nơi quỷ môn quan tự nhiên bây giờ được một giai nhân kiều diễm cưới làm chồng, được tắm rửa sạch sẽ ăn mặc bảnh bao sang trọng thơm tho, cái này không phải chuột sa hũ nếp mà là vựa nếp, lại là nếp một đó. Trời khiến như vậy đó quí vị biết không. Tôi nói điều này chắc quí vị ngạc nhiên khi thấy tôi không nghiên cứu kinh điển kinh điển mà lại đọc báo chí làm chi chớ thỉnh thoảng tôi đọc báo chí tôi thấy có nhiều người y chang như anh chàng này. Có được một người yêu giàu đẹp, trí thức trong khi mình là một cái thằng thất học lưu manh xăm trổ đầy người tự nhiên một ngày đẹp trời được người ta để mắt; vậy mà nghĩ làm sao không biết, trong một lần ân ái đè người ta ra bóp cổ chết để lấy đi có vài triệu. Chuyện vậy mà xảy ra thường ngày ở VN, đúng là khiến. (Tôi nghe mà tức, bây giờ có một thí chủ cư sĩ nào đem tôi về nuôi kêu tôi giảng kinh là tôi giảng, kêu tôi nín giảng là tôi nín giảng, không dám nhúc nhích. Mà giảng kinh đó nghen, kêu giảng là giảng, kêu dẹp là dẹp.)

Anh này y chang như vậy, cái phước tới đó là hết rồi, không còn phước để hưởng nữa. Lấy được người con gái đẹp như vậy, ngon lành như vậy mà anh ta không cam tâm, muốn trở lại cuộc đời bay nhảy, cho nên anh ta dụ nàng lên trên núi và nói rằng ngày xưa trong lúc bị kêu án tử anh ta có khấn với linh thần nếu thoát chết nạn này thì anh ta sẽ có một lần đi trả lễ. [‘Balikamma’: lễ cúng.]

Tôi đọc mà tiếc hùi hụi. Nàng thương quá rồi nàng cũng gật đầu. Hai người sắm sửa lễ phẩm một mâm hoành tráng đem lên núi chỗ mà anh ta đã lựa chọn chắc ăn rồi. Lên đến nơi anh ta nói thiệt: “Anh không có hứa với thần thánh nào cả, anh không thể sống với em được nữa mà anh cũng không thể nào để em sống.” Nàng nghe như vậy thì thấy thua rồi. Nàng nói: “Ok, một ngày vợ chồng nghìn năm ân nghĩa, trước khi giết em để tạ lễ thần lễ thánh gì đó thì anh cho em lạy để tạ từ.”Anh ta nghe vậy lim dim khoái, thế là nàng đẩy một cái anh ta rơi từ trên đỉnh núi xuống vực. Nàng cũng hơi có cái lưu manh một chút nhưng không xài cái gan sao thoát được kẻ gian. Khổng Tử có nói lòng hại người thì không nên có nhưng lòng đề phòng thì không nên không.

Giết xong rồi thì nàng nghĩ bụng, ‘‘na sakkā mayā iminā niyāmena puna gehaṃ gantuṃ, itova gantvā ekaṃ pabbajjaṃ pabbajissāmī’’ti – phận đời trớ trêu, tình đã tan, tim đã nát, trong tình huống này mặt mũi nào về, rồi ăn nói làm sao với bố mẹ. Ngày xưa thì lạy lục van xin cầu khẩn gia đình đi chuộc thằng trời ơi đó về, bây giờ về nói làm sao, cộng với trái tim đã tan nát. Đá nát vàng phai thì còn gì để mà sống ngoài đời nữa. Nàng quyết định đi tu. Do huệ căn rất nhiều đời nên sau khi đi xuất gia nàng vô trong đạo này học ba mớ thấy dở ẹc bỏ qua đạo nọ. Sau thời gian truân chuyên trôi nổi nhiều tông phái thì nàng đã học được tất cả bí kíp kinh điển mật ngôn của các bộ phái và cuối cùng trở thành đệ nhất biện sĩ, giỏi lắm.

Bên châu Âu thời Trung Cổ khi có vấn đề giữa đàn ông với nhau người ta giải quyết bằng đấu kiếm, còn bên Ấn Độ thì có điểm đặc biệt phổ biến này: những ai dầu là tu sĩ hay người đời mà xét thấy cần có một cuộc thách đấu về trí tuệ, về biện tài thì cứ công khai thách đấu, sẽ có người tìm đến với mình, chẳng hạn như bố mẹ của Saccaka biện sĩ cũng là hai người tài, ngày nọ họ thách đấu với nhau rồi cảm mến nhau, rồi lấy nhau sanh ra Saccaka “miệng lằn lưỡi mối” đó. Nàng Kundalakesā cũng thách đấu, hình thức thách đấu rất là dễ thương: tự mình vun một đống cát rồi cắm lên đó lấy một nhánh cây. Trừ con nít, ai nhổ nhánh cây đó là chấp nhận lời thách đấu. Bữa đó ngài Xá Lợi Phất đi bát gần đó, ngài hỏi mấy đứa bé: “Cái này là có người ghim phải không, ai ghim vậy.” Lũ trẻ trả lời: “Cây này là của một bà rất giỏi”. Ngài nói: “Nhổ giùm ta đi. Nếu người ghim hỏi ai nhổ thì cứ nói là tôn giả Xá Lợi Phất đang ở đó, ở đó…”

Chúng ta biết rồi, ngài Xá Lợi Phất là đệ nhất trí tuệ, lại bốn trí vô ngại nữa nên khi nàng tìm đến ngài để tranh biện thì nàng bái phục ngài và đi xuất gia. Ngài hỏi nàng một câu thôi: “Không ai sống ở đời lại không nhắc đến mấy con số, nhưng con số 1, 2, 3… quan trọng nhất phải biết là gì?”

Không ai sống trên đời này mà không nhắc đến những con số, dù là mù chữ họ cũng phải nhắc, ví dụ 1 đồng, 2 đồng, 1 xu, 2 xu, 1 ngôi nhà, 1 con sông, 5 quả đồi, 8 ngọn núi v.v..., vậy con số 1 quan trọng nhất là gì, số 2 quan trọng nhất là gì, số 3 quan trọng nhất là gì nàng biết không. Dĩ nhiên nàng làm sao biết được. Bởi vì trong kinh nói Ngài dạy rằng, ai sống ở đời cũng phải nhắc đến những con số, nhưng có những con số mình biết vô lượng kiếp mà mình vẫn chây lì ra đó làm kẻ phàm phu sinh tử trong biển đời bát ngát bao la. Nhưng có những con số mà mình biết rồi thì quãng đường sinh tử tự dưng rút ngắn lại. Những con số đó là cái gì?

‘Ekanamakim’, con số 1 quan trọng nhất chính là muôn loài sống nhờ Thực phẩm. Số 2 quan trọng nhất là Danh và Sắc,… cứ như vậy. Nói chung, mình biết được những con số này thì mới dẫn đến giải thoát chứ dù có là tiến sĩ toán học, tiến sĩ vật lý, tiến sĩ hóa học, biết bao nhiêu con số, bao nhiêu bảng phân loại tuần hoàn đi nữa thì không có con số nào quan trọng hơn mấy con số này hết.

Nàng Kundalakesā nghe vậy thấy lạ quá, từ đó đến giờ chưa bao giờ được nghe. Nhất là khi nàng được hiểu câu đầu tiên mà ngay cả Phật tử VN mang tiếng mấy chục năm học đạo vẫn không bao giờ chịu hiểu câu đầu tiên này: “Muôn loài sống nhờ thực phẩm”. Tôi nhớ đã giải thích câu này rồi, câu này là nội dung của toàn bộ Phật pháp. Tức là, pháp thiện là thực phẩm cho người thiện, nhờ có pháp thiện mình mới có nhan sắc, có sức khỏe, có trí tuệ. Pháp bất thiện cũng là thực phẩm, nhờ pháp bất thiện mình mới có thời gian ở địa ngục, mới có lửa địa ngục để mình xài, mới có nỗi khổ niềm đau, mới có sự đói lạnh, thương thích, ghét sợ… của loài đọa xứ chứ. Nói chung mọi thứ trên đời này đều có nguồn năng lượng hỗ trợ, nguồn năng lượng hỗ trợ đó là thực phẩm. Vấn đề là chúng ta là loại chúng sanh nào, sống bằng loại thực phẩm nào, và loại thực phẩm đó sau đó biến ta thành loại gì tiếp theo. Như vậy thì toàn bộ Phật pháp chỉ là vấn đề thực phẩm thôi. Hôm nay hoặc từng bữa đầu tuần, đầu ngày bà con vào room nghe chúng tôi nói chuyện cũng là đang ăn đó, còn ăn bằng tâm trạng gì, bằng hệ thống tuần hoàn tiêu hóa hô hấp ra sao thì đó là chuyện của quí vị. Một lần đọc sách, một lần nghe ai đó nói chuyện là một lần mình đang nạp thực phẩm, nạp dưỡng tố vào đời sống của mình. Muôn loài sống nhờ thực phẩm, từ đất đá, cây cỏ, con ong cái kiến cho đến Ngọc hoàng thượng đế, Thái Thượng lão quân, Đại phạm thiên, Ác Ma thiên tử, Đế thích, Chuyển Luân Vương, Càn-thát-bà, Cưu-bàn-trà, Kim-xí-điểu v.v... tất thảy đều sống trong hỗ trợ của nghiệp thiện nghiệp ác, tất cả đều nằm trong bốn loại thực phẩm. Ở đây ngài chỉ nói gọn muôn loài đều sống nhờ thực phẩm, chỉ một kiểu thực phẩm này thôi là bao gồm nhất thiết càn khôn sum la vạn tượng.

Nàng Kundalakesā nghe thích quá, xin xuất gia và về sau trong một dịp trước mặt đại chúng Đức Thế Tôn xác nhận rằng: “Trong đệ tử của ta không có một tỳ kheo ni nào có khả năng chứng đắc nhanh như vậy.” Đó là chuyện đời vừa đẹp vừa buồn của nàng Kundalakesā.

^^^

Bhaddākāpilāni


“10. Trong các vị nữ đệ tử... nhớ đến các thời quá khứ, tối thắng là Bhaddā Kapilānī.”

Bhaddākāpilānī là Đệ nhất Túc mạng minh, giống như ngài Sobhita bên Tăng. Tín nữ nên xem Bhaddākāpilānī là một trong ba hình mẫu để chọn lựa: 1. Quên đi phái tính, vùi đầu để tu. 2. Cùng nắm tay với một vị Bồ tát để chung lo đại sự. 3. Chọn một người như bạn đời hoặc bạn đường.

1. Quên đi phái tính, vùi đầu để tu.

Lạnh lùng băng giá, quên đi phái tính chỉ biết cắm đầu vun bồi thiện pháp, cắm đầu vùi mặt tu hành để nếu đủ duyên thì thành nam cho vui với người ta, cạo râu lần cuối trước khi niết-bàn, bằng không thì chứng đạo ngay trong thân nữ, vẫy tay giã biệt trầm luân.

2. Cùng nắm tay với một vị Bồ tát để chung lo đại sự.

Như bà Yasodharā, bên cạnh tình riêng đối với Bồ tát, bà có tấm lòng của một người nghĩ đến vạn loại hữu tình trong ba cõi mười phương. Cực lắm, chứ nếu chỉ là nhi nữ thường tình thì không đủ cái gan mà đi suốt con đường của bà Yasodharā đâu thưa quí vị. Tôi nghĩ, mỗi lần nhắc tới bà Yasodharā thì mình chỉ nên có một động tác là chắp tay cúi đầu quỳ lạy mà thôi. Bà đã tu 4 a-tăng-kỳ thì lâu gấp đôi Phật Độc Giác, gấp bốn ngài Mục Kiền Liên, ngài Xá Lợi Phất, không lạnh xương sống sao được, mà trong chừng đó thời gian chỉ làm một việc là hỗ trợ cho người khác thành Phật, còn bản thân thì vẫn đứng bên lề lịch sử. Đây mới đúng là tâm tư của một vị đệ nhất anh thư.

3. Chọn một người như bạn đời hoặc bạn đường

Đi một mình thì quạnh hiu, thôi thì hãy chọn lấy một người, lúc thì coi nhau như bạn đời khi thì coi nhau như bạn đường. Có nhiều người bắt họ làm nam thì họ cũng còn tiếc một thỏi son nhưng họ cũng đã vượt khỏi cái tầm nhi nữ thường tình lâu rồi. Họ đã sống bằng cái tâm hồn của nam tử hán đại trượng phu đầu đội trời chân đạp đất, chỉ có điều trong một góc sâu thẳm nơi đáy tim, họ cũng thèm một bờ vai, một vòng tay đủ mạnh đủ ấm để tựa. Đó là ai? Chính là Bhaddākāpilāni mà mình đang học đây. Suốt cả trăm ngàn đại kiếp, nàng chỉ thương có một người thôi, đó là ngài Mahā Kassapa. Tam thiên đại thiên thế giới này trong mắt của nàng chỉ có một bóng tùng quân là con người đó thôi. Hễ gặp nhau, ngài làm vua thì nàng làm hoàng hậu; ngài là chủ nhà thì nàng là nội tướng phu nhân. Mà điều đặc biệt là hễ ngài Mahā Kassapa vào rừng tu thì nàng cũng lò dò đi theo sau. Ngài Mahā Kassapa đắc thiền thì nàng cũng lập tức đắc thiền (vụ này tôi cũng xin ngã mũ ngàn lần vì vụ này hơi khó). Mình thương người ta, mình đi theo người ta học hạnh lành bố thí, trì giới, phục vụ, hồi hướng, thính pháp, nghe pháp, những cái đó thì coi bộ được. Nhưng cái vụ người ta đắc thiền mình bèn đắc theo, người ta bỏ nhà mình bèn bỏ theo, người ta lên rừng mình bèn lên theo thì tôi chỉ thấy có nam thôi. Vậy mà nữ có người làm đặng. Ấy chính là bà Bhaddākāpilānī của chúng ta, nhiều và rất nhiều kiếp.

Giống như bà Yasodharā, ai cũng tưởng bà đối với Bồ tát chắc tình cảm ái ân tràn trề. Nhưng không phải đâu, thương lắm nhưng (lúc người ta đến xin bà Yasodharā) Bồ tát chỉ cần cầm tay nàng mà nói "Người ta cần nàng, ta cần Phật đạo, giúp ta một lần đi" thì nàng gạt nước mắt mà ra đi. Khi ngài nói như vậy thì đại địa chấn động, cả tam thiên đại thiên thế giới rung lắc, chịu không nổi! Nhiều lần và rất nhiều lần như vậy.

Đến lúc sắp niết-bàn, bà có kể lại chuyện đó: "Ngày xưa bao nhiêu kiếp đi theo Thế Tôn, Thế Tôn cho nhà, cho đất, cho cả nam nô nữ lệ, cho hết, cái gì con cũng chịu. Cuối cùng ngài đem mấy đứa con của mình cho luôn, con gạt lệ mà chia tay không dám nửa lời trách móc. Và khi không còn vật sở hữu gì để cho, không còn người để cho, ngài bèn đem cả con mà cho luôn, con vẫn lạy tạ ngài con đi". Khiếp như vậy!

Ở đây bà Bhaddākāpilānī thì chưa tới mức đó nhưng hễ có ngài Mahā Kassapa ở đâu thì nàng ở đó, ngài đắc thiền thì nàng đắc theo, ngài về Phạm thiên nàng về theo. Ở cõi Phạm thiên thì lìa dục ái và sân, lên trên đó không còn nam nữ nữa, hết trên đó rồi trở xuống. Ai ở trên Phạm thiên mới xuống thì không còn cảm giác trong tình cảm nam nữ nữa, trong chuyện hưởng thụ 5 trần thì tê lưỡi và nghẹt mũi. Nàng cũng vậy, nhưng mà thương thì cứ thương. Đây là thứ tình cảm lạ lùng lắm. Thương người ta thì phải hỗ trợ người ta chứ không phải thương mà kéo người ta xuống sình. Muốn thương Từ Hải phải cỡ Kiều; cỡ Loan mới thương Dũng; cỡ Trương Quỳnh Như mới thương Phạm Thái được.

Chuyện này tôi đã kể rồi, nhưng nãy giờ tôi cố ý kể nhiều vì tôi muốn nhấn mạnh một chuyện mà không mấy khi có dịp kể, đó là mang thân nữ phải là nữ cỡ nào cho đáng! Để làm chi? Để có thể gặp những bóng tùng quân có ‘số má’ trong Tam giới. Và ngược lại nam cũng vậy, nam cũng phải nam cỡ nào để được cỡ này nương dựa; còn nếu không được ai dựa thì một mình trong trời đất cũng sung sướng.

Sau nhiều kiếp, đến kiếp cuối cùng nàng là một triệu phú tiểu thư, còn chàng là một thiếu gia triệu phú. Gia tư không phải “thường thường bậc trung” mà là bậc thượng, giàu lắm. Trang trại của ngài Mahā Kassapa rộng đến mức không tài nào đi bộ được mà phải cưỡi ngựa. Ngày ngày ngài cưỡi ngựa một vòng, dòm ngó bảo ban người làm một chút rồi đi chớ không thể nào đi bộ được. Nhiều lần những buổi trưa nắng chang chang ngài cưỡi ngựa vô thăm trang trại thấy mấy con trùn, con dế nóng quá nhảy ra ngoài đất, những con chim sẻ nhỏ xuống bắt ăn, những con chim lớn rượt giành mồi của mấy con chim nhỏ. Những nông phu, gia nhân, mồ hôi nhễ nhại dưới trời nắng như lửa thiêu. Bản thân ngài tuy là quần là áo lụa nhưng cũng nóng nực, ngay cả con ngựa cũng khó chịu. Thấy tất cả những điều đó, ngài nghĩ: “Luân hồi sao ngán quá, mình là công tử mà còn chịu không nổi; đời nào cũng sanh ra như vậy làm sao chịu nổi.”

Ngài thì nghĩ như vậy đó, còn chúng ta thì sao? Trưa nắng thì mặc trưa nắng, miễn có tiền để mình đếm là thỏa mãn rồi. Ngài thì không, ngài chán cuộc sống như vậy quá mà gia đình thì ép ngài lấy vợ. Ngài thuê thợ làm một tượng nữ nhân thật đẹp bằng vàng. Ngài nói chỉ lấy vợ nếu có người nào đẹp như vậy. Ngài nghĩ đẹp như vậy thì không thể nào có. Không ngờ gia đình cũng tìm ra được một người như vậy. Và dĩ nhiên người thiệt còn đẹp sống động hơn tượng nữa. Trong ngày rước dâu, hai người lén gửi thư cho nhau, đều nói cười là theo lệnh của gia đình cho cha mẹ vui chứ không ái ân gì cả vì nản lắm rồi. Đêm hợp cẩn thì mỗi người riêng một góc giường. Sau đó cả hai người đi tu với lời hẹn ai tìm được đạo bất tử trước thì sẽ về tìm người còn lại.

Ngài Mahā Kassapa gặp Đức Phật trước. Ngài đi xuất gia và sau đó ngài mới gặp lại nàng Bhaddākāpilāni. Và nàng cũng chứng quả A-la-hán, được Đức Phật xác nhận là Đệ nhất Túc mạng minh. Nghĩa là một đêm như vậy nàng có thể nhớ hàng trăm đại kiếp, nhớ nhanh, nhớ nhiều, nhớ giỏi và thường xuyên sống trong những lần nhập định để sử dụng Túc mạng minh nhiều hơn những vị khác (khả năng, biệt tài đó tiếng Pāḷi gọi là ‘ciṇṇavasī’).

^^^

Bhaddakaccānā


“11.Trong các vị nữ đệ tử... đã chứng đạt đại thắng trí, tối thắng là Bhaddā Kaccānā.”

Bhaddā Kaccānā chính là bà Yasodharā. Bà có nhiều tên gọi: Bhaddā Kaccānā, Bimba, Rāhulamātā (mẹ của Rāhula), Yasodharā. Liếc vào Chú giải thì thấy ngắn ngủn. Tại sao ngắn? Vì bà là một nhân vật quá nổi tiếng, cuộc đời của bà không cần kể nhiều, hễ kể về cuộc đời Đức Phật thì phải kể về bà. Vì vậy bao nhiêu chi tiết lớn nhỏ về bà thì chúng ta đọc thấy trong Phật sử hết rồi. Ở đây chỉ kể vắn tắt thôi. Nói đến bà là nói đến hai sự kiện:

1- Bốn a-tăng-kỳ trước bà đã quỳ trước mặt Đức Phật Nhiên Đăng (Dīpaṅkara) nguyện trở thành người hộ pháp cho Bồ tát Sumedha, người sau này trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

2- Sự kiện thứ hai quan trọng trong cuộc đời sinh tử của bà đó là cách đây một trăm ngàn đại kiếp bà đã quỳ trước Đức Phật Padumuttara và nguyện trở thành vị tỳ kheo ni Đệ nhất thắng trí (ngũ thông nói chung). Nghĩa là ngũ thông của bà không ai bì được trong hàng ni. Nên bên ni thì có những vị đệ nhất Túc mạng minh, đệ nhất thiên nhãn, nhưng tròn trịa cả 5 như bà thì không.

Tại sao không phải Lục thông? Bởi vì thông thứ 6 là Lậu tận thông, thông này chính là quả vị La-Hán. Có nhiều loại La-Hán: La hán 3 thông (Tam minh), La hán lục thông (có ngũ thông), La-Hán nhất thông chỉ hết phiền não, không có thần thông gì cả. Còn những trường hợp nữa, trong kinh nói rõ có nhiều vị có đắc thần thông nhưng do tiền nghiệp vị đó không đủ ngũ thông, ví dụ ông Sunakkhatta, ông chỉ có được tha tâm thông, nhãn thông, nhưng không được thiên nhĩ thông.

Trong đây có kể mỗi vị Chánh Đẳng Giác có bốn vị đệ tử nhớ hơn một a-tăng-kỳ. Ở đây gồm có hai vị thượng thủ Thanh văn, bà Yasodharā, ngài Bakkula, tổng cộng là bốn vị nhớ 1 a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp tiền thân. (Ekassa hi buddhassa cattārova janā mahābhiññā honti, na avasesasāvakā. Avasesasāvakā hi kappasatasahassameva anussarituṃ sakkonti, na tato paraṃ. Mahābhiññāppattā pana kappasatasahassādhikaṃ asaṅkhyeyyaṃ anussaranti. Amhākampi satthu sāsane dve aggasāvakā bākulatthero bhaddā kaccānāti ime cattāro ettakaṃ anussarituṃ sakkhiṃsu.)

Bà đã rất nhiều kiếp phò trì hỗ trợ Bồ tát. Bồ tát tu hành thì bà nấu cơm, quét nhà, giặt giũ chăn đệm mùng mền, nhiều kiếp phải có một nội tướng như bà thì Bồ tát mới yên tâm làm việc tu hành ba-la-mật. Đặc biệt là bà không có léo nhéo phiền trách vì bà tin ngài làm đúng. Phải nói là không dễ tìm một người phụ nữ chia sẻ lý tưởng với người đàn ông đâu quí vị. Có nhiều bà mới đầu chí lớn cùng chồng đi hoạt động cách mạng bôn ba làm quốc sự chính khách, nhưng tới hồi có chút của ăn của để, có chút tiếng tăm thì lo đi đánh ghen. Ngày xưa như chúng ta thấy ông Tôn Dật Tiên cưới bà Tống Khánh Linh Mỹ Linh thì lấy Tượng Giới Thạch, nhưng nhắm có xứng đáng hay không. Một người đàn bà như bà Yasodharā khó kiếm lắm, đầu gối tay ắp thì dễ nhưng chia sẻ chuyện lớn thì khó. Phải là người “chuyện lớn chia sẻ, chuyện nhỏ cảm thông”, lỡ có ai đầu mày cuối mắt vì chồng mình thì bà cũng tỉnh bơ vì bà hiểu ngài mà, có một chút sa cơ mềm lòng cũng là chuyện nhỏ thôi. Còn chúng ta thì không có khả năng này, nam thì không đáng mặt anh hào mà nữ thì không đáng mặt anh thư nên cứ ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.

Tôi có biết một cô Phật tử, đã có chồng, cũng trọng tuổi, cổ coi phim cuộc đời Đức Phật do Ấn Độ đóng, tôi nghe cổ nói mà không biết nên khóc hay nên cười. Cổ nói: “Trời đất ơi, con nhìn con thấy cái ông diễn viên đóng Bồ tát Tất Đạt đẹp trai quá trời mà bà Yasodharā cũng đẹp quá cỡ, tự nhiên con nghĩ những cặp như vậy mới nên xáp vô chứ sao con thấy mình bây giờ toàn cào cào với châu chấu không, con muốn hết lấy chồng luôn.” Mình nhìn thấy ngài Mahā Kassapa với nàng Bhaddā Kāpilānī thiệt là đẹp đôi, Bồ tát Tất Đạt với bà Yasodharā thiệt là đẹp đôi, nếu tìm không ra thì sống một mình chứ đừng ráp sai nồi lộn nắp thì khó lòng lắm. Học cuộc đời của bậc thánh không phải học để cho vui mà để mình gẫm lại. Tôi phải làm sao để bản thân tôi xứng với người khác và người đến với tôi cũng phải xứng với tôi.

Tôi sẽ là một con người như thế nào để có thể có những người bạn đường và bạn đời thật ngon lành. Nếu mình là người nam thì mình phải là người bạn trai xứng đáng với những người vợ, người bạn gái thật xuất sắc. Nếu mình là người nữ thì mình phải trang bị làm sao để cho người ghé mắt nhìn mình dù hạng bét cũng phải là Từ Hải. Chứ còn thứ Mã Giám Sinh hay Sở Khanh thì uổng đời quá.

^^^

Kisāgotamī


“12. Trong các vị nữ đệ tử... mang thô y, tối thắng là Kisāgotamī” [‘Kisā’: ốm o gầy mòn.]

Có nhiều huyền thoại kể về nàng Kisāgotamī. Nàng vốn sinh ra mang phận gái nhà nghèo. Cách đây 100 ngàn đại kiếp thì cũng tu hành cũng phát nguyện lung tung như người ta, nhưng sau nhiều đời sinh tử, kiếp chót cuối cùng khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời hoằng hóa độ sanh thì nàng lại sanh vào trong một gia đình nghèo khổ, thân hình ốm nhách. Nhưng tại sao nàng lại lấy được chồng đại gia?

Có ông chủ một tiệm vàng to đùng, một buổi sáng nọ mở cửa dọn hàng ông phát hiện ra tất cả bán vàng thoi bạc nén của ông đều thành than hết, một loại than nấu bếp. Tôi tổng hợp lại rồi kể chứ trong Chú giải nói chỗ có chỗ không. Thấy ông kêu trời, có người mách cho ông như thế này:

- Chuyện này không phải tự nhiên đâu, chuyện này là chuyện lạ đó. Ông cứ để vầy đừng dọn. Khi nào có người có phước tới thì tự nhiên mọi sự trở lại như cũ.

Một hai ngày sau thì một người con gái là Kisāgotamī đi ngang, thấy đống than liền cầm lên nói: “Vàng bạc ai đổ đống như thế này như than đốt lò là sao?”

Ông nghe thấy hết hồn nói: “Than chứ đâu phải vàng!”

Nàng nói: “Đây là vàng sao ông nói than đốt lò, ông bị bệnh hả?” Phần nào nàng cầm lên thì thành vàng hết. Ông biết đây là người đặc biệt, không thể xa người này được. Thương thì không phải thương nhưng cần thì rất là cần. Đây là một bài học! Trên đời có những món, có những người, thương thì mình không thương, thích thì mình không thích, nhưng cần thì cũng phải chịu. Nói ra hơi bạc nhưng sự thật là như vậy. Có nhiều món mình không thích ăn, có món ngon mà không lành, có món lành mà không ngon. Về VN có nhiều món rất ngon nhưng mình yên tâm là nó không lành. Bên cạnh đó về quê thì có nhiều món ăn rất lành như rau bình bát, rau tập tàng, bông thiên lý, nhãn lồng mọc ở bờ rào bụi chuối bờ ao, không ngon gì nhưng ăn thì lành. Trong quan điểm nhân sinh, trong tình người, hay trong chuyện sở hữu tài sản cũng y chang như vậy, có người thì thấy không ngon nhưng lành, không lành nhưng ngon. Ông thấy nàng trông không bắt mắt nhưng thấy cần cho mình nên ông cưới. Cưới nhưng nhà chồng coi rẻ thân thế của nàng lắm. Một ngày kia khi nàng có một đứa con, cả dòng họ bu lại thờ nàng như thờ nữ thần. Bởi vì nàng là người có phước thì họ thấy rồi, nhưng xấu quá. Bây giờ thêm đứa con trai đích tôn nữa thì nàng muốn trời mưa có mưa, muốn trời nắng có nắng. Xui cho nàng, đứa con chưa được một hai tuổi gì đó thì nó lăn ra chết.

Quí vị tưởng tượng đi, một người con gái “sanh ra trời bắt xấu”, không nhan sắc, do một chút may mắn mà bước chân vào cửa hào môn, sâu tợ bể, để rồi bây giờ trong một phút giây, điểm tựa sau cùng để nắm níu tựa nương trong cuộc đời là thằng con trai, vậy mà một sớm mai hồng nó ra đi không báo trước, không từ giã một lời, làm sao nàng không đau cho được.

Thế là nàng trở nên điên dại, không nghĩ gì đến chuyện chôn cất an táng, nàng bồng xác con điên dại đi trên đường, vừa đi vừa khóc: “Ai cứu lấy con tôi, cho tôi xin thuốc để cứu con tôi.” (puttassa me bhesajjaṃ dethā), cứu con mà cũng cứu cả đời nàng. Động trời ở chỗ cứu con mà cũng cứu cả mình nữa.

Có người thương nàng quá mới nói: “Ai mà cứu được, đã chết rồi. Giờ chỉ còn một cách, nghe nói, sa-môn Gotama ở Kỳ Viên hình như cái gì Ngài cũng biết, ai Ngài cũng thương, hình như cái gì Ngài làm cũng được. Đó là người duy nhất sau cùng để gõ cửa. Nếu Ngài mà từ chối thì xem như hết phương rồi.”

Nàng nghe như vậy tất tả bồng con chạy tới gặp Thế Tôn và quỳ xuống: “Xin Thế Tôn cứu!” Đức Phật vừa nhìn thấy nàng thì biết rằng đứa con gái lưu lạc của mình trong vô lượng kiếp đã về đến nhà. Nên khi nàng xin như vậy thì Ngài bảo hãy ra làng ra phố, tìm cho Ngài một ít hột cải trắng (siddhatthaka/ white mustard) đem về thì có thể cứu được, với điều kiện là trong gia đình, dòng họ của người cho hạt cải chưa từng có người chết, chớ nhà nào có cha chết, mẹ chết, ông bà chết… thì không được. [‘Matapubba’: từng có người chết; ‘Na matapubbo’: chưa từng có người chết]

Nàng đi suốt “mùa thu cách mạng” mà không tìm được. Đây là một cách nói minh triết, hiền trí, chứ không phải là gạt nàng. Hữu sự thì vái tứ phương, nàng bồng xác con đi gõ cửa từng nhà xin hột cải trắng. Hột cải trắng người ta có thể cho nàng cả thúng, nhưng điều kiện của nàng đưa ra hơi kỳ. Khi hỏi họ, họ nói với nàng: “Điên hả, làm gì có gia đình nào không có người chết.” Cánh cửa đóng sầm lại, nàng tiếp tục gõ cửa nhà người khác. Nắng đã xế, tay bồng xác con đã mỏi, trong cơn mỏi mệt đau thương tận cùng ấy, trong đầu nàng bỗng lóe lên một nhận thức, thì ra hột cải trắng không thiếu, nhưng không có ai trong cuộc đời này mà gia đình, dòng họ lại không có người chết, như vậy sanh ly tử biệt không phải là ngoại lệ, không phải là nỗi đau riêng tư của một mình ta. Như vậy là Thế Tôn rõ ràng đã dùng mẹo này mà cứu ta. Nghĩ vậy rồi nàng bồng xác con vào nghĩa trang chôn cất rồi trở lại gặp Thế Tôn xin xuất gia. Sau khi xuất gia rồi thì dĩ nhiên chứng La-Hán. Có điều, chứng La-Hán xong nàng đặc biệt hoan hỉ với một cái hạnh mà người ngoài nghe hơi thấy khó chịu, đó là suốt đời từ khi đắp y đến khi viên tịch nàng chỉ mặc một loại y phấn tảo mà thôi. Y phấn tảo có hai chữ Pāḷi: Paṁsukulacivara, lūkhacīvara, là y thô xấu, có xuất xứ mạt hạng như vải quấn xác, vải liệm tử thi, vải liệng đống rác mà trước đó người ta dùng vào việc gì có trời biết chẳng hạn như vải băng bó vết thương, vải sử dụng trong nguyệt kỳ hoặc lúc sanh nở của phụ nữ… đem về giặt sạch, nhuộm, cắt may thành y.

Phải coi cái thân mấy chục ký lô của mình tệ hơn rác, rẻ tiền cỡ nào, mới đủ cái gan, đủ khiêm cung, đủ điều kiện tâm lý để khoác lên người lá y này. Người mặc được lá y này là đã tự coi mình chân trong chân ngoài quan tài rồi, không còn sợ hãi gì nữa. Chứ người còn tham sống sợ chết, còn coi mình quan trọng thì không làm sao đủ can đảm thò tay lấy miếng vải quấn xác máu me đem về nhuộm cắt may. Không phải dễ, trừ những người nghèo khó ngoài đời không biết Phật pháp, hết đất sống, bí quá phải như vậy. Họ có thể mặc vải liệm nhưng nay mai có tiền họ không muốn quay lại với chuyện đó, hạng này thì mình không có phục. Người nào mặc y này suốt kiếp không chán nó, không sợ nó thì mới gọi là người mặc phấn tảo y, còn nghèo quá mặc tạm thì không kể.

Có gan trì hạnh phấn tảo cũng là cái gan đáng để nhân thiên ba cõi cúi đầu. Cũng như cái gan ăn đồ khất thực cũng là cái gan đáng để chúng ta cúi đầu. Mới nghe qua thì thấy có gì đâu mà cúi, xin thưa quí vị, quí vị có biết trong bình bát của mấy ông sư người ta để cái gì hay không. Quí vị làm ơn đừng có dòm vô bình bát trong lễ bát hội, trong lễ đó người ta để toàn đồ đàng hoàng. Bát hội ở VN người ta còn có cho tiền, họ cho cái gì mình còn biết xuất xứ. Còn khất thực ở làng xa, xóm nhỏ, quê nghèo họ để cái gì thì trời biết. Ví dụ buổi sáng họ dỡ cơm đi ruộng còn một góc, mình đi ngang họ múc cho mình một góc cũng đỡ, còn như cơm thiu cơm hẩm chảy nước nhớt lầy nhiều khi người cho cũng không ngờ chảy nước rồi, họ thấy mình đi ngang họ cũng hốt một nắm liệng vô bát, hay nhiều khi cơm thừa canh cặn mình đâu có biết. Nói chung khi biết chút ít về thực phẩm sạch, về dưỡng sinh, về vi khuẩn vi trùng thì mới thấy cái gan ăn được đồ khất thực cũng đúng là anh hùng hào kiệt có mấy tay.

Nếu đúng là chân tu, bần tăng khổ sãi, thanh tu khổ hạnh thì trong cái ăn cái mặc đã đòi hỏi mình một vốn liếng tâm lý, một hành trang tâm tư ghê gớm lắm chứ không phải dễ. Hạnh xài được y thô xấu có xuất xứ mạt hạng, cũng là hạnh tu đáng để cho nhân thiên cúi đầu.

^^^

Singālakamātā


13. Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, đầy đủ tin thắng giải, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Siṅgālakamātā

Tỳ kheo ni Siṅgālakamātā là Đệ nhất tín giải thoát, tương đương với ngài Vakkali bên tăng. Nàng cũng có 100 ngàn đại kiếp huân tu (tích lũy) ba-la-mật. Kiếp cuối cùng thì nàng sanh vô trong một gia đình triệu phú, đi nghe pháp rồi xuất gia. Người đến nghe pháp, được chiêm ngưỡng tôn nhan của Thế Tôn thì rất nhiều, nhiều vô số, nhưng nàng có một điểm đặc biệt là nàng nhìn một lần là biết rằng mình phải xuất gia tu hành dưới chân con người đó. Người ta nhìn Đức Phật người ta chỉ thấy đẹp thôi, còn nàng nhìn tôn dung Ngài thì nàng thấy ở đó có từ tâm, có trí tuệ, có bao nhiêu là hạnh lành nơi đó, có giới, có định, có tuệ, có ta có người, có nhân thiên, đại địa càn khôn vũ trụ trong đó. Cái đẹp đó đại diện cho cái thiện muôn đời, chân lý muôn thuở, nàng thấy trong đó có con đường giải thoát sinh tử trầm luân. Nàng nhìn trong đó giống như nhìn một tấm gương sáng cho muôn đời vạn đại hữu tình. Người chiêm ngưỡng tôn dung Thế Tôn thấy thích thú có niềm tin thì nhiều, nhưng với cái nhìn mà thấy ở đó có con đường giải thoát, có giới định tuệ, có cái đẹp trong và đẹp ngoài thì không phải dễ. Cho nên nàng đi xuất gia và xem chuyện chiêm ngưỡng Thế Tôn giống như một cái hạnh tu vậy.

Có lẽ quí vị nghĩ tôi phăng thêm, thật sự như vậy không phải tôi phăng đâu, khi nàng quan sát Thế Tôn nàng thấy nơi đó tất cả hạnh lành. Giống như ông bá tước Keyserling của Đức, ông nói rằng: Mỗi lần tôi có chuyện buồn, tôi nhìn lên bức ảnh của Đức Phật, dầu người ta vẽ lại dĩ nhiên không giống nhưng tôi thấy trong ánh mắt đó, trên vầng trán đó không có chỗ cho những tị hiềm, đố kị ghen ghét. Trên vầng trán đó không có chỗ cho những suy nghĩ lối mòn hay những suy tư thiếu máu tật nguyền. Trên vầng trán đó tôi không thấy có chỗ cho sự toan tính, cho những thành kiến, những bảo thủ, những lì lợm, ngoan cố. Trên vầng trán đó tôi thấy tất cả những hạnh lành, những đức tính đẹp nhất mà nhân loại có thể có. Nghĩa là hai mươi lăm thế kỷ sau trên hành tinh này vẫn có người suy nghĩ như vậy khi nhìn về tôn dung của Đức Phật.

Vào một ngày thích hợp, trước mặt đại chúng, Thế Tôn chính thức xác nhận: “Trong đệ tử tỳ kheo ni của ta, Đệ nhất tín giải thoát – lấy niềm tin làm nền tảng cho trí tuệ giải thoát - không ai hơn được tỳ kheo ni Siṅgālakamātā.”

Như vậy hôm nay mình đã học xong phần tỳ kheo ni. Còn lại là học về hạnh lành của các vị thiện nam và tín nữ. Hôm nay là ngày Thứ Ba, chúng ta còn học ba ngày nữa đó là ngày mai, ngày Chủ Nhật, ngày Thứ Hai. Sau đó chúng tôi vắng mặt vì có việc phải đi – chân tu, tango mà.

Bây giờ chúng ta học đến những vị thiện nam có đặc hạnh xuất sắc trong giáo pháp của Đức Phật. hai nhân vật đầu tiên là anh em nhà Tapussa và Bhallika.

^^^

PHẨM NGƯỜI TỐI THẮNG (Nam Cư Sĩ )


Tapassu, Bhallikā


“1. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ của Ta, này các Tỷ-kheo, đã quy y đầu tiên, tối thắng là các người buôn bán Tapassu Bhallikā”

Trong room này tôi nghĩ rằng rất nhiều bà con biết hai nhân vật này rồi. Hôm nay có ai đi về Miến điện mà không biết đại tháp Shwedagon ở Yangon. Tương truyền rằng trong đó đang tôn trí 8 sợi tóc của Đức Phật và lịch sử của 8 sợi tóc này bắt nguồn từ Ấn Độ. Bắt nguồn từ một thành phố tên là Asitañjana.

Cách đây 100 ngàn đại kiếp có hai người thiện nam thấy Đức Phật Padumuttara nhắc trước mặt đại chúng: “Trong giáo pháp của ta có vô số chúng sanh từ Long vương, Càn-thát-bà, Dạ xoa, Kim xí điểu, Dục thiên, Phạm thiên nhưng trong đó người đầu tiên nhìn thấy Như Lai sau ngày giác ngộ chính là mấy người này…” Họ chỉ nghe như vậy mà về muốn kiếp sau được như vậy. Họ chỉ nguyện như vậy. Sau một trăm ngàn đại kiếp tu hành đến đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Bồ tát Tất Đạt sau 6 năm khổ hạnh thành Phật dưới gốc bồ đề, trước khi thành Phật, Ngài nhận cơm sữa của nàng Sujāta, vắt thành 49 vắt nhỏ, dùng hết 49 vắt đó rồi Ngài mới thành Phật. Sau khi thành Phật rồi thì Ngài nhịn suốt bảy tuần lễ (49 ngày). Nói theo mình bây giờ thì cơ thể lúc đó đang thực sự rất cần thực phẩm. Lúc đó có một đoàn thương lái đi buôn bằng xe bò 500 chiếc đi ngang cánh rừng gần chỗ Ngài đang ngồi. Khi hai anh em người đánh xe thuê (kiểu như là bảo tiêu, ông Bavari là người đầu tiên, hai anh em này cũng là dạng bảo tiêu) vận chuyển hàng đi ngang thì một vị thọ thần trong rừng vốn là bà con kiếp trước của hai anh em bảo tiêu này, biết Đức Thế Tôn đã nhịn đói quá nhiều ngày cần thực phẩm, đây là cơ hội bằng vàng để hai người bà con của mình tạo phước, nên đã dùng thần thông khiến cho những cổ xe bị lún xuống. Hai anh em đang loay hoay không biết phải làm sao thì ông hiện ra nói: “Có một vị đại sa-môn cực kỳ khả kính đang ngồi gần đây, Ngài đang rất cần thực phẩm. Hai người có đồ ăn nhiều thì đem cúng cho Ngài đi.”

Thực phẩm đường dài thì đâu có gì ngon, chỉ có bánh bột thôi. Quí vị phải đồng ý với tôi rằng ở đời này có nhiều chuyện xảy ra rồi mình mới biết chứ còn mình ngồi tưởng tượng, dệt mộng làm thơ, hình dung liên tưởng là khó lắm; khi Ngài đang ở trên Đâu Suất kiếp áp chót thì chư thiên, Phạm thiên trong bao nhiêu vũ trụ hằng hà sa số tới thỉnh Ngài giáng trần để thành Phật, rồi từ lúc Ngài đản sanh thì từng bước từng bước trong cuộc đời của Ngài chư thiên theo dõi quan sát chăm sóc biết là bao nhiêu. Ấy vậy mà sau bảy tuần lễ không ăn gì thì không biết chư thiên dắt nhau đi đâu sạch bách. Thật là lạ, tại sao không ai dòm ngó gì hết, để cho Thế Tôn sau 49 ngày nhịn đói phải dùng ngọ bằng một món - không phải tôi chê - nhưng không đáng với Ngài. Trong kinh nói rõ là bánh bằng bột như bánh đa bánh đúc của mình vậy. Hai anh em này nghe thọ thần nói vậy nên bưng mâm tới cúng cho Ngài.

Trong thời gian khổ hạnh thì bình bát Ngài bỏ mất tiêu rồi, lúc này Ngài biết liền khi hai người đem mâm bánh tới, Ngài nghĩ liền, Chánh Đẳng Giác không bao giờ nhận thức ăn bằng tay, chỉ nhận bằng bát, mà ta hiện giờ không có bình bát. Lúc đó Tứ thiên vương mới lập tức xuất hiện, mỗi vị bưng một bình bát dưng cho Ngài. Ngài muốn cho cả bốn vị đều hoan hỉ nên Ngài lấy 4 bình bát chồng lên và chú nguyện: “Thành một đi!” Bốn cái hóa thành một, Ngài không nhận của riêng ai hết. Khi thành một rồi thì Ngài mới nhận mâm bánh của hai anh em. Ngài nói đạo cho họ nghe. Xong xuôi, trước khi từ giã ra đi họ có nói thế này: (Bhante, amhākaṃ paricaraṇacetiyaṃ dethā’’ti vadiṃsu. Satthā dakkhiṇena hatthena sīsaṃ parāmasitvā dvinnampi janānaṃ aṭṭha kesadhātuyo adāsi. Te ubhopi janā kesadhātuyo suvaṇṇasamuggesu ṭhapetvā attano nagaraṃ netvā asitañjananagaradvāre jīvakesadhātuyā cetiyaṃ patiṭṭhāpesuṃ. Uposathadivase cetiyato nīlasmiyo niggacchanti.) “Chúng con hôm nay gặp Ngài ở đây không biết còn có dịp nào gặp lại, xin Thế Tôn cho chúng con một ít kỷ vật để về chúng con thờ.” Lúc đó Thế Tôn lấy bàn tay phải chạm lên tóc, lấy cho họ 8 sợi tóc. Họ đựng trong cái hộp bằng vàng đem về thành phố quê hương của mình lập tháp thờ ngay cổng thành, chỗ ra vào của thành phố Asitañjana. Cứ mỗi ngày bát quan trai thì trong ngôi tháp này tỏa ra ánh sáng màu xanh.

[‘Jīva’: còn sống; ‘kesa’:tóc (hair of the head); ‘dhātu’: xá lợi (relic); ‘jīvakesadhātuyā’: xá lợi tóc còn tươi của người đang sống (thường là người ta thờ di vật của người đã chết)]

Ở một cuốn kinh khác cho chúng ta biết rằng sau nhiều cuộc bể dâu thăng trầm luân lưu thì 8 sợi tóc đã được chuyển về Miến Điện. Có rất nhiều truyền thuyết, nhưng truyền thuyết phổ biến là 8 sợi tóc hiện đang thờ ở Shwedagon chính là 8 sợi tóc ở vụ này.

Hai anh em thọ quy giới, mà lúc đó chỉ quy y Phật, quy y Pháp thôi chứ đâu có quy y tăng. Về sau, Tapussa trở thành một thiện nam thuần thành, trọn đời tu Phật, còn người em Bhalliya xuất gia chứng lục thông.

Vào một ngày mùa thu hiu hắt, ngài Bhalliya đang ngồi thiền trong rừng thì Ác Ma nghịch xuất hiện, biến ra một hình hài cực kỳ khủng khiếp đáng sợ để hù dọa ngài. Ngài đọc một bài kệ trả lời: Ta bây giờ không còn cái để thích thì làm sao còn thứ để sợ. Ác ma bèn biến mất. Câu này hay quá phải xăm lên trán. Mình cứ giận, cứ hờn, cứ khó chịu, tại sao mình còn sợ chết, sợ ma sợ mối, sợ gián sợ chuột, sợ thằn lằn, sợ bóng đêm sợ độ cao…? Là vì mình còn có cái thích! Còn có cái thích thì còn có cái ghét. Câu trả lời của ngài Bhalliya rất bình thường, nghe hơi có vẻ ‘nghèo nghèo’ nhưng cực kỳ sâu thẳm, chứa hết nội dung của ba tạng, tông chỉ tu hành của chư Phật ba đời mười phương. Nhiều khi đọc kinh thấy chỉ kể giống như một câu chuyện thôi, nhưng khéo dụng công thì sẽ có một bài học giáo lý cực kỳ sâu sắc.

^^^

Sudatta Anāthapindika


“2. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ... bố thí, tối thắng là gia chủ Sudatta Anāthapindika”

Quí vị để ý trong bản Pāḷi phần kể về ông Cấp Cô Độc rất là ngắn, bởi vì trường hợp của ông Cấp Cô Độc cũng là trường hợp bà Yasodharā. Ông là một người cực kỳ nổi tiếng, nổi tiếng đến mức mà kiếm được một Phật tử Nam Tông không biết về ông Cấp Cô Độc cũng là hiếm. Nhũ danh của ông là Sudatta. Ngoại hiệu, cũng là mỹ danh của ông là Anāthapindika, người cấp dưỡng kẻ cơ nhỡ, cô độc quan quả (Cô: nhỏ tuổi mà không cha không mẹ, độc: tuổi già không có con cháu nuôi dưỡng; quả: đàn bà chết chồng; quan: đàn ông chết vợ. Bốn hạng này (gọi chung là Anātha) mà không tiền không bạc, không cơm không áo thì ông cung dưỡng cho họ hết.

Ông Cấp Cô Độc có một gia thế rất hoành tráng chói lọi, gia tộc ông là những người giàu có và ông cũng là sui gia với bà Visākhā. Con trai ông Cấp Cô Độc là em rể của bà Visākhā.

Ông Cấp Cô Độc là một thương gia, người anh cũng là thương gia, cả hai anh em rất giàu có. Năm nào ông Cấp Cô Độc cũng thu xếp công việc đến thăm anh. Anh em mọi khi gặp nhau tay bắt mặt mừng. Lần này ông đến thì người anh nói xin lỗi anh đang bận tay, phòng ốc sẽ có người nhà giúp em. Người anh để cho ông Cấp Cô Độc “tự sanh, tự diệt” trong ngôi nhà to lớn đó. Ông Cấp Cô Độc ngạc nhiên vì sao anh mình tất bật dọn nhà chuẩn bị như sắp có cưới hỏi. Người anh nói ngày mai có trai tăng cúng dường Đức Phật và chư tăng đông lắm. Nghe nói chữ ‘Phật’ là ông Cấp Cô Độc sững người choáng váng. Đêm đó ông ngủ không được, ông nói với người anh là muốn gặp Đức Phật lắm. Người anh bảo phải ngày mai mới được, Ngài đang ở bên cánh rừng, giờ này không biết đang nhập định hay nghỉ ngơi, rừng đêm thì tối tăm độc trùng mãnh thú, thôi hãy đợi sáng mai. Ông Cấp Cô Độc không chịu nghe, ông mở cửa đi ra ngoài băng qua sân rộng, băng qua cánh rừng, băng qua bãi tha ma để đến gặp cho được Đức Phật.

Ấn Độ có nhiều kiểu an táng người chết: lâm táng là bó xác liệng trong rừng, thủy táng là quấn sơ sơ rồi thả bè trôi sông, hỏa táng là đốt, mai táng là đem chôn, thiên táng là liệng đâu đó cho chim trời ăn. Bãi tha ma là chỗ lâm táng, những người không có danh phận khi chết thì người ta liệng vào đó cho gọn. Hôm nay mình chỉ thấy tục này còn ở một ít nơi trên thế giới như Indonesia, Philippin và một vài vùng cực kỳ hẻo lánh chứ không còn phổ biến. Nguyên một khu rừng với những xác chết đã cũ chỉ còn trơ mấy bộ xương đầu lâu trắng hếu. Nói thiệt với bà con là đầu lâu trắng hếu tôi không ngán, tôi ngán cái xác mới. Nó phình lên, xì hơi, rỉ nước. Cái xác khô thì thứ nhất là không sợ bệnh, thứ hai là bộ xương không kích thích sự tưởng tượng của mình bằng cái xác chưa rã. Tôi kể như vậy để quí vị thấy bối cảnh của ông Cấp Cô Độc lúc này rùng rợn cỡ nào. Vậy mà vì nghĩ đến Đức Phật ông đã nôn nóng đi liền trong đêm. Lâu lâu nghe tiếng con giả can tru hú rợn người, rồi tiếng những con chim heo, những con cú mèo kêu trong đêm. Ông vấp mà không biết vấp cái gì dưới chân. Khi ông nghĩ tới Ngài là thấy sáng trưng, chỗ nào trắng trắng là xương, chỗ nào đen đen là xác người, ông đi rồi vấp một phát, đó là cái xác mới. Khi bị vấp thì ông hoảng hồn, ánh sáng không còn nữa. Ánh sáng đó chỉ là ánh sáng tâm lý thôi. Nhiều lần ông tính quay lại, đi càng vô sâu thì ông thấy mình đã nhầm, càng đi thì càng nhầm. Một lát sau ánh sáng xuất hiện trở lại. Ông bắt đầu đi tiếp. Có một con Dạ xoa tên là Sivaka, cũng là quyến thuộc quá khứ của ông, biết ông là ai, một đại nhân vật như thế nào, nên Dạ xoa mới nói: “Mỗi bước chân của ông bây giờ trị giá bằng một trăm ngàn đồng vàng. Ông bước đi, cái máu thương gia trong người ông hãy tính toán mỗi bước chân của ông bây giờ trị giá một trăm ngàn đồng vàng, nên đi tới hay nên lui?”

Không phải ông tính toán lời lỗ ở đây, nhưng nghe nói mỗi bước chân trị giá một trăm ngàn đồng vàng ông ý thức được rằng cuộc đời mình bắt đầu sang trang, bước qua một bước ngoặt mới. Rõ ràng ông thấy yếu tố tâm linh lớn quá. Nếu tôi đang sợ mà nghe tiếng nói như vậy thì tôi không sợ nữa mà lại khoái, bởi vì tôi biết rằng quả thật trên đời này có chuyện kỳ lạ. Thế là ông đi tiếp. Ông qua khỏi bãi tha ma thì nghe tiếng nói: “Hãy đến đây Sudatta Như Lai đang ở đây!”

Người biết tên tộc của ông thì đâu có nhiều, nên khi nghe kêu ngay chóc tên cúng cơm của mình là ông không còn biết trời đất gì nữa, cứ phăng phăng thẳng tới chỗ đó, quỳ sụp xuống. Và Đức Phật thuyết pháp cho ông nghe.

Hôm sau ông về lại nhà người anh, ông đã trở thành người Phật tử lăng xăng dốc sức phụ giúp người anh cúng dường cho Đức Phật và chư tăng. Sau đó ông tức khắc dẹp hết chuyện làm ăn, trở về Sāvatthī tìm ngay một miếng đất để Thế Tôn và thánh chúng có chỗ cư trú và hoằng pháp độ sinh. Từ đó mới có chuyện ông đi thương lượng với ông hoàng Jeta chủ đất, vì ông thấy không có miếng nào ngon hơn miếng Kỳ Viên tinh xá hết. Ông chủ đất nói: “Không, đây là miếng đất ưng ý của tôi, làm sao tôi bán được.”

Khi thấy ông Cấp Cô Độc năn nỉ quá, ông hoàng Jeta nói: “Ông năn nỉ thì tôi bán, nhưng ông trải vàng tới đâu thì tôi bán tới đó.”

Ông chủ đất muốn làm khó ông Cấp Cô Độc để ổng khỏi năn nỉ nữa, mệt quá. Nhưng ông không ngờ là ông Cấp Cô Độc giàu tiền lại giàu tín tâm. Lấy hai cái giàu này cộng lại, ông Cấp Cô Độc bắt đầu cho người nhà đem vàng đến trải, trải đến đâu ông lấy đất đến đó. Khi gần giáp miếng đất rồi thì ông đứng chống nạnh nhìn quanh suy nghĩ nhíu mày.

Ông chủ đất hỏi: “Ông tiếc của hay ông đã hết vàng?”

Đó là một câu hỏi hay nhất trong năm. Ông nói rằng: “Ta không tiếc của mà vàng của ta thì còn khuya mới hết. Vấn đề là ta đang băn khoăn là lấy vàng ở kho nào cho gần, chứ lấy xa quá thì biết chừng nào mới xong.”

Không ngờ trên đời có một người giàu dễ sợ như vậy. Ông Jeta nghe như vậy thì hết hồn, hết hồn không phải chỉ vì cái giàu của ông Cấp Cô Độc mà còn vì tín tâm của ông này. Ông Jeta nói: “Thôi được rồi, đủ rồi, phần đã trải thì coi như đủ tiền mua đất, còn phần còn lại thì coi như ta đóng góp đi.”

Vậy là đương nhiên là xứ PG có thêm một ngôi chùa, đó là chùa Kỳ Viên. Kể từ đó, đều đều mỗi ngày ở nhà của ông Cấp Cô Độc có ít nhất là 500 tỳ kheo đến để dùng trưa. Nhiều vị thích đi xa, thích đi hóa duyên từng nhà thì cứ đi, còn những vị lớn tuổi mệt mỏi hoặc có việc riêng phải làm thì chư tăng cứ việc sắp xếp với nhau, từ chùa đến thẳng nhà ông để thọ trai khỏi đi khất thực xa xôi từng nhà. Trong Chú giải có ghi thêm, hôm nào Thế Tôn ngủ đêm ở chùa Kỳ viên (Jetavana) của ông Cấp Cô Độc thì hôm sau Ngài nghỉ trưa ở chùa Đông Phương (Pubbārāma) của bà Visākhā. Chùa Pubbārāma này bà cất 500 phòng cho chư tăng, còn chùa Kỳ Viên thì Chú giải có kể rất dài, trong đó có hội trường tên gì, chiều cao, chiều ngang chiều rộng như thế nào… Thế Tôn ngủ đêm bên đây thì ngủ trưa bên kia, ngủ đêm bên kia thì ngủ trưa bên đây. Liên tục và liên tục, ngày nào cũng có chư tăng, và từ chuyện hay ho này mới dẫn đến cớ sự, một câu chuyện động trời trong lịch sử PG.

Đó là, vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) thấy ông Cấp Cô Độc là dân dã mà sao quan hệ của ổng với Đức Phật và chư tăng thân thiết quá cỡ thợ mộc. Đã vậy bà Visākhā còn nói một câu xanh dờn: “Khi ta đi vô chùa, mấy ông sư nhỏ hay nhìn vô bàn tay của ta coi ta có cầm cái gì cho họ hay không. Thế là ta không bao giờ mà đi chùa mà không có thức ăn cho buổi sáng và nước uống cho buổi chiều.”Ông Cấp Cô Độc cũng có một câu y chang như vậy, cho nên vua Pasenadi thấy mình làm vua mà thua hai người dân dã này, thế là vua cũng bèn vào xin Đức Phật cho mỗi ngày mấy trăm chư tăng đến hoàng cung thọ thực. Nhưng vì vậy mà lại nảy sinh một chuyện động trời để rồi từ đây mà máu chảy thành sông xương chất thành núi.

Sau khi Đức Phật nhận lời thì chư tăng mỗi ngày thêm một chỗ đi nữa. Trong kinh nói có bữa một ngàn, hai ngàn vị đến với Cấp Cô Độc, rồi đến chỗ bà Visākhā, rồi bây giờ thêm chỗ hoàng cung của vua Pasenadi nữa. Nhưng, có một điều, chữ ‘nhưng’ này mới là ghê gớm, đến ông Cấp Cô Độc hay đến bà Visākhā thì được chăm sóc từ ngoài ngõ, đến đó là có người cung đón vào tới nơi, có chỗ rửa chân, có khăn lau chân, ngồi xong bước xuống ra đi thì được tận tình chăm sóc, vị nào bệnh hoạn được thuốc men, được hỏi thăm chăm sóc rất ân cần. Còn chốn hoàng cung kia thì lại khác. Thâm cung vời vợi, vào thì cao sang, vô tới nơi thì loe ngoe có mấy tên lính hầu dòm dòm gãi gãi đầu. Cận giờ ăn thì mới có người ra múc chút đỉnh. Chư tăng thì thà ôm bát ăn cơm mắm ngàn nhà mà có đạo tình hơn là chỗ cao sang quyền quí ghẻ lạnh tủi thân quá. Vị nào thánh thì ok, chứ phàm thì cũng có chút chạnh lòng. Thế là từ từ tan hàng hết. Buổi đầu thì 500, bữa sau 400, rồi 200, 150, 80, riết rồi cuối cùng còn có một mình ngài Ānanda thôi. Thức ăn lúc nào cũng thừa mứa mà cách tiếp thì dở quá, vật cho không bằng cách cho. Cuối cùng vua vào than với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, Visākhā và Cấp Cô Độc bao nhiêu năm nay cúng dường chư tăng lúc nào cũng lui tới, còn riêng con thì cũng đâu thiếu đạo tâm mà chư tăng sao không quan tâm thương con.” Đức Phật kể câu chuyện xưa mà ngụ ý của câu chuyện đó là cách cho quan trọng hơn vật cho. Mình đối với người ta ra sao, chứ không phải mình cho người ta cái gì…, đại khái như vậy. Vua về suy nghĩ hoài. Vua nghĩ: “Chắc bây giờ mình phải đi thêm một bước nữa mới gần gũi Đức Phật và chư tăng được.” Thế là vua cho người đi đến dòng họ Thích Ca để cầu hôn bởi vì dòng Thích Ca có cái lệ không lấy người ngoài dòng tộc nhưng có thể lấy dòng vua Koliya của vua Pasenadi.

Trong mười sáu vương quốc đương thời, dòng Thích Ca chỉ cưới hỏi với dòng vua Koliya của vua Pasenadi. Thế là vua cho người đi kiếm một cô nào được được trong hoàng tộc để lấy dòng Thích Ca. Từ đây về sau mình là người nhà của Thế Tôn thì chư tăng sẽ đối với mình khá hơn. Vua nghĩ như vậy, ông đi cái nước đó thấy hay nhưng hóa ra dở, bởi vì thái độ của ông ra sao chứ thân thế của ông thì ai lại không biết ông là vua.

Dòng Thích Ca thì kiêu ngạo lắm, không muốn gả quận chúa đích tôn mà lại đi kiếm một cô xuất thân có vấn đề. Cô này là con riêng của một hoàng thân với cô nữ tỳ. Nghĩa là có một ông hoàng thân trong lúc dung dăng dung dẻ trong nhân gian thì có đứa con rơi. Hoàng tộc Thích Ca thấy người ta tới hỏi vợ mà mình không có thì mất lòng, mà gả đích tôn thì không ai đáng hết, thôi lượm đỡ một đứa hàng ‘thứ phẩm’ gả cho đỡ ức. Thế là đem cô con riêng của hoàng thân cho ăn mặc đàng hoàng, cũng cho lên kiệu hoa 8 người khiêng, đem gởi về cho vua, cô này mặt mũi cũng được. Vua quá sức mừng mà vua đâu có biết. Mãi về sau này, vua với cô vợ mới này có con, tên là Vidūdabha. Hoàng tử Vidūdabha lớn lên, bữa đó đi về thăm quê ngoại tức là chỗ mẹ mình ở. Về thăm nhưng dòng Thích Ca lại đối xử ghẻ lạnh, Vidūdabha đã thấy tủi rồi. Mấy ngày ở đó, người ta cũng bất đắc dĩ phải tiếp nhưng không trọng. Vidūdabha không biết lý do tại sao. Lúc từ giã ra về, trong đám lính hầu có người quên đồ quay trở lại. Khi quay trở lại anh ta thấy một cô cung nữ vừa lấy sữa lau chỗ ngồi trên ghế của khách mới rời đi vừa nói: “Xí, tưởng ngon gì, quí giá gì thứ con rơi của nô tì mà về xênh xang áo mão phát ghét.” Tiểu tâm sanh đại nạn. Trong chùa cũng thường hay có loại này, khinh thường thì giữ trong bụng chứ đừng nói ra mất lòng, không đẹp. Người ta có khả năng làm chuyện lớn còn đám này chỉ biết làm lớn chuyện thôi. Anh chàng lính hầu nghe như vậy bèn học lại với hoàng tử. Hoàng tử Vidūdabha nói: “Hôm nay họ lấy sữa tươi lau chỗ ngồi của ta, mai này ta sẽ lấy máu của họ để lau chỗ ngồi của ta.”

Đúng như vậy, về sau chính Vidūdabha xua quân tàn sát dòng Thích Ca mà mọi cớ sự khởi đi từ câu nói vô ý thức của cô lau ghế. Nguồn cội sâu xa là cũng từ chuyện ông Pasenadi lấy vợ dòng Thích Ca, truy xa hơn nữa là ông Cấp Cô Độc và bà Visākhā đại thí chủ được lòng chư tăng.

Một bài học cực lớn ở đây là chuyện đẹp nhất trên đời có thể là nguồn cơn của chuyện xấu tệ trên đời và chuyện xấu tệ trên đời có thể là nguồn cơn cho chuyện cực đẹp trên đời. Đời là tương đối nên Lão Tử có nói “Họa hề phúc chi sở tàng, phúc hề họa chi sở phục.”, trong cái phúc vốn là chỗ núp của họa mà trong họa là chỗ ẩn núp của phúc là vậy đó. Chuyện thiệt là đẹp đôi khi là nguồn cơn cớ sự cho chuyện tan nát can tràng.

Ok hết giờ rồi, xin hẹn lại các vị ngày mai. Chúng ta còn lại ba buổi giảng, đi đâu thì đi, chúng tôi cũng ráng tranh thủ để không bỏ lớp như là nửa năm qua. Bây giờ có tuổi, phải dành hết thì giờ cho ngày sau. Chúc quí vị một ngày vui một đêm an lành. #NhậtKýChépBằngKinh; #SưGiácNguyên; #NhịTường; #TăngChi_1

^^^

TẢN MẠN


Bốn sự sợ hãi


“Này các Tỷ-kheo, có bốn sự sợ hãi này. Thế nào là bốn? Sợ hãi về sanh, sợ hãi về già, sợ hãi về bệnh, sợ hãi về chết - Này các Tỷ-kheo, có bốn sự sợ hãi này.”
(Kinh Sợ Hãi)

Bốn nỗi sợ hãi phổ quát ở ba cõi: đã sinh ra là phải già, bệnh, chết.

Đã sanh ra là phải đối diện với điều đó. Tôi nói nhiều lần, mình dễ ngươi thì thôi, chớ nếu bà con có lòng tin Phật, lúc đi lúc ngồi cứ nhìn mình từ trên xuống dưới chân biết đây là một cái xác chưa chôn. Chỉ nhớ bao nhiêu đó thôi. Đang đứng cũng có thể nghĩ như vậy. Đang ngồi, đang nằm cũng nghĩ như vậy, đây là cái xác chưa chôn. Chắc chắn sẽ có một ngày cái cục thịt này nó phải ở vào một trong hai tình huống sau đây: (1) Tai nạn nát bét, người ta lấy rổ hốt từng phần cho vô hũ chôn. (2) Còn nguyên, đem thiêu hoặc đem chôn.

Tại sao tôi bắt đầu nói cái chết trước? Bởi vì chết là gốc của già và bệnh. Tại sao mình sợ bệnh? Già và bệnh thì ngoài sự đau đớn khó chịu còn là lối về cõi chết nên ai cũng e ngại hai vụ này. Còn người hữu trí thấy một em bé chào đời là hiểu ngay rằng sẽ có thêm một đám tang trong một ngày nào đó.
Voltaire của Pháp cũng đã nói thế này: Tại sao ta phải khóc khi một ông già chết, lẽ ra ta phải khóc khi một đứa bé chào đời chứ không phải là khi một ông già nằm xuống. Chuyện đứa bé chào đời đáng khóc vì cuộc đời buồn như vầy mà con tới làm gì. Còn chuyện đã ra đời, lớn lên, già rồi chết là chuyện đương nhiên. Vấn đề ở đây, ông là một người Cơ Đốc, mặc dầu là một người bội giáo, ông không tin Chúa dù trên giấy tờ vẫn là người đạo Chúa, nhưng ông ngộ ra một điều rất Phật giáo: Chúng ta phải buồn khi một đứa bé chào đời hơn là khi một ông già nằm xuống.

Đây là bốn nỗi sợ phổ quát mà ba cõi đều phải dính hết. Có những cõi không bệnh không già nhưng chắc chắn phải chết.

Hôm trước chúng ta học về bài Kinh Sư Tử, Thế Tôn có dạy rằng, mỗi lần thú rừng nghe tiếng gầm của con sư tử thì con nào con nấy run bắn lên, trốn được thì trốn, chun được thì chun, lặn được thì lặn, bay được thì bay. Cũng vậy, khi Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác thuyết pháp Ngài vạch ra cho mọi người thấy một sự thật đó là bây giờ đẹp mấy, sướng mấy, giàu mấy tất thảy đều phải có một lúc bỏ lại hết mà ra đi. Ba-la-mật còn non yếu thì không nghe nổi mấy điều này; đã vậy, hễ thấy sợ thì bịt tai hoặc nghe sợ rồi sau đó chỉ là viên sỏi liệng ao bèo, đâu lại vào đấy. Người có nhân duyên tu hành giải thoát, hạt giống bồ đề loại xịn thì bây giờ hai chục tuổi, ba chục tuổi, sáu chục tuổi nghe xong chỗ này đều phải thu xếp.

Nhiều vị sư bạn của tôi – gom lại chắc cả trăm, ở mức thân đáng gọi là bạn đó – trong đó có 3 vị mà tôi nghĩ tiền kiếp phải là sao đó. Có vị đang học lớp 10, buổi đó trong lớp tự nhiên nhìn lên bảng, nhìn cô giáo, nhìn mấy đứa bạn rồi nghĩ, trời đất ơi, bây giờ làm thầy làm trò cho đã rồi mai mốt chết sạch hết vậy hở trời. Nghĩ như vậy rồi thấy sốc. Ổng nói ổng không còn tâm trạng nào học được nữa.

Một vị nữa tự nhiên nhìn quanh cái nhà này, cái xóm làng này, cái con đường này hình như không thuộc về mình, mình không thể nào ở đây được, tự nhiên giống như bà nhập vậy, thấy không thể nào tiếp tục cả đời sống ở đây được. Thế là tự lấy kéo nhắp nhắp gọt tóc trên đầu, trọc lóc nham nhở như xà mâu vậy rồi đi vô chùa xin đi tu. Vị trụ trì cái chùa ở địa phương không nhận, nhưng hên là bữa đó có vị khách tăng thấy mặt chú này thương quá bèn nhận đem đi về xứ của vị đó luôn. Và giờ đây cũng là một vị thương tọa tiếng tăm.

Chuyện về các vị đó cũng là một xúc tác làm cho tôi củng cố đạo tâm rất nhiều. Một người có ba-la-mật là phải như vậy đó, phải biết sốc. Hôm qua hôm kia mình mới học đây, có những con ngựa thấy dáng roi là đã vọt rồi. Có những con ngựa phải quất một cây mới vọt và có những con đập chết cũng không vọt, chỉ có được đem đi xẻ thịt. Bên cạnh đó, Ngài nói, có những chúng sanh chỉ nghe nói chuyện sanh lão tử của người ta là đã run bắn rồi. Nhưng có những chúng sanh dầu chuyện xảy ra ngay trên đầu của chính bản thân, xảy ra cho người nhà, cho cha mẹ mà vẫn trơ trơ. Cũng vô chùa, cũng khóc lóc, cúng thất này thất kia, cúng xong bảy thất rồi cũng trở về lối cũ đường xưa, cũng tào lao như cũ.

Trong khi đó, phải nói rằng một ngày nào đó mình ngồi nghĩ lại tất thảy những người quen, nhớ lại những người quen cũ coi kẻ nào còn, sẽ thấy họ đi gần hết. Nhất là cái tuổi của tôi, những người mà ngày xưa khi 15, 20 tôi gọi họ là người lớn (năm nay tôi 50, bằng tuổi của thầy Thiện Minh, thầy Nhật Từ, chúng tôi là ba con gà bằng tuổi nhau mà mỗi vị một kiểu đời), như Hòa thượng Viên Minh, hồi tôi biết HT mới có 14 hạ, trẻ hơn tôi bây giờ; HT Hộ Chơn chùa Bửu Thắng thì lúc chúng tôi biết cũng chỉ mới mười mấy hạ thôi, sư Ấn Minh - chú ruột của Sư Thiện Minh lúc đó chỉ ngoài 30, năm nay thì ngoài 70, ngài Thiện Thắng (tức ngài Tôn) ở chùa Từ Quang; rồi chúng tôi cũng có dịp nhìn thấy Sơ tổ Hộ Tông năm 80, lần cuối cùng; rồi ngài Ẩn Lâm… Những vị ấy mất là đúng rồi, nhưng những người mà thời đó chúng tôi thấy ba mươi mấy tuổi, như HT Giác Chánh, ngày chúng tôi biết thì Hòa thượng chỉ mới 32 tuổi bây giờ thì lên hàng bảy rồi. Khiếp lắm. Mới 50 thôi đó, mà nhớ lại những người mà mình gọi là người lớn đó, bây giờ một là lên Hòa thượng, hai là lên bàn thờ hết.

Còn các cụ Phật tử thì bữa đó tôi ngồi nhẩm lại thấy số người tôi quen mà chết rồi là sáu mươi mấy người. Cho nên, không phải là chuyện tào lao đâu, tôi kể cho bà con nghe để bà con thấy rằng lần lượt cái room này sẽ đi sạch không còn ai hết. Và biết đâu có một ngày cái room này được tiếp nối bởi một vị khác không phải là tôi, và lúc đó đương nhiên người nghe cũng không phải là quí vị.

Miễn sao PG Nam Tông VN luôn luôn có một lớp Kinh Tạng, giảng Chánh tạng bằng Chú giải. Đừng nghĩ rằng lớp này là đã làm xong việc. Không phải vậy đâu. Cứ là giảng hết năm bộ kinh là quay trở lại. Bởi vì năm bộ này muốn giảng xong thì mất từ 5 cho tới 7 năm. Tôi đã giảng tới năm thứ tư rồi, cái đà này là ba năm nữa mới xong. Như vậy là 7 năm. Nếu vị nào muốn làm cái lớp giống như vậy, vị đó phải đợi tôi giảng 7 năm hoặc tôi giảng 7 năm rồi mới quay trở lại được. Lúc đó số nào chết thì chết, số còn sống cũng quên sạch rồi.

^^^

Hiểu được  khổ


Hiểu được mọi thứ ở đời là khổ thì ta đã đi được nửa đường giải thoát.

Hiểu ở đây có ba cấp độ Văn, Tư và Tu.
Văn là nhờ nghe hay đọc mà biết.
Tư là do suy tư nghĩ ngợi, lý luận, suy diễn, tưởng tượng.
Tu ở đây là do tu tập Samathā và Vipassanā mà thấy được.

Hiểu đến mức nào thì giải thoát đau khổ đến mức đó.
Hiểu ở mức tương đối thì giải thoát kiểu tương đối.
Hiểu cách tuyệt đối rốt ráo thì giải thoát đau khổ rốt ráo.

^^^

Thế giới này là cái gì


Thế giới này là cái gì thì tùy thuộc vào khả năng quan sát của chúng ta.

Chúng ta sẽ sống trong địa ngục triền miên nếu ngay bây giờ chúng ta không tự an lạc.

Chúng ta sẽ suốt đời mãi hoài sống trong kiếp đời ngạ quỷ khi suốt một đời thèm khát đi theo đuổi cái mình muốn.

Chúng ta sẽ mãi hoài chìm sâu trong cảnh giới của A-tu-la, của địa ngục khi mình bị đốt cháy bởi sự bất mãn triền miên trong tâm thức.

Chúng ta mãi hoài là loài quỷ dữ khi suốt một đời theo đuổi những đối tượng mình muốn đánh phá, muốn hủy diệt, muốn tàn hại.

^^^

Sống thiện


Vô lượng chúng sinh trong vô lượng vũ trụ ai cũng mong mình có một ngày đẹp, nhưng trong vô lượng chúng sinh ấy mấy ai hiểu được thế nào là một khoảnh khắc đẹp, một giờ đẹp, một ngày đẹp, một tuần lễ, một tháng hay một năm đẹp. Ngày đẹp giờ đẹp đó chính là giây phút chúng ta sống thiện.

^^^

Sống với từng giây hiện tại


Một người sống trong đạo rốt ráo thiết tha phải là người sống hết mình với từng giây hiện tại. Tôi có một pháp môn, buồn cách mấy, giận cách mấy cứ nhớ hoài một câu: “Thời gian đang trôi”. Tôi gọi pháp môn đó là “watch-watching meditation”, pháp môn nhìn đồng hồ. Thay vì người ta quán hơi thở, quán sự chết, mình chỉ ngó đồng hồ thôi, nó chỉ đi tới không đi ngược bao giờ. Đây là pháp môn rất là hay.

Một câu chuyện tôi học trong kinh thánh đó là Đức Chúa Trời không bao giờ biết cười, cách duy nhất để chọc cười Đức Chúa Trời là kể cho ngài nghe những dự tính của mình. Nghe cũng hài hước giống như đứa bé bốn tuổi kể cho ông nội những kế hoạch dự kiến tương lai của đời nó. Đối với vị đại trí, không để cho quá khứ cũng như tương lai tác động buồn vui. Nói như vậy không có nghĩa là mình quên bẵng quá khứ và đẩy tương lai sang một bên. Quá khứ có giá trị khi nó là một bài học, một kinh nghiệm hay cho hiện tại. Tương lai cũng là cái gì đó giá trị nếu nó là động lực động cơ cho hành động hiện tại.

Nếu mình sống trong giả niệm vọng chấp tiếc nuối về quá khứ và tương lai như vậy là không tốt. Quá khứ và tương lai chỉ có giá trị khi nó là động cơ động lực tác động cho giây phút hiện tại.

^^^

Biết rõ tâm mình đang hướng về cái gì


Tâm có kiểm soát là biết rõ nó đang có định hướng như thế nào. Có thể bà con than với tôi là Định của mình còn yếu, Niệm của mình còn yếu, nhưng chuyện đầu tiên là phải biết rõ là mình đang cầu giải thoát hay cầu luẩn quẩn loanh quanh. Phải xác định với chính mình điều đó.

Trong một sự vô tư nhất, chân thành trong sáng nhất, tôi phải xác định với bà con, tôi, người đang hầu chuyện đây, hai hôm nay tôi bị đau (ruột) rất nhiều. Đau đến nỗi cứ tưởng chiều nay phải bỏ giảng đi nhập viện.

Ở đây không có phải là kêu gọi sự giúp đỡ mà là phải nói cho bà con hết hồn, một con người ăn nói rào rào rạt rạt như thế này mà tới cữ của nó thì thì đau kinh lắm. Hồi nãy tôi có suy nghĩ thế này: phúc thay cho kẻ nào lâu lâu phải đau mà không chết để họ có cơ hội nghe được tiếng gọi của thiên sứ, của thần chết. Chứ còn đau mà chết, đau mà không tu tập được thì không nói làm gì, đó là tận số rồi.

Đau như vậy để phải biết rõ tâm mình đang hướng về cái gì. Chẳng hạn như tâm tôi bây giờ thì tôi biết rõ tôi phải buông rồi. Phải buông thôi, bởi không có cách nào tiếp tục bao nhiêu giấc mộng đời xưa giờ được nữa. Cơn đau bắt đầu từ hai ngày nay, đau kinh khủng.

Cho nên, bà con phải nhớ, phúc thay cho kẻ nào thỉnh thoảng bị tử thần nhéo cho một cái, dí vào trán một cái. Lâu lâu phải nghe mùi tanh tanh của thần chết một chút thì mới khá được. Tôi phải nói rằng hai ngày nay mà bà con có đứng trước nhà kêu tên của tôi mà chửi thì khả năng kham nhẫn của tôi cực lớn. Miễn đừng đụng tới người tôi thôi chứ bà con cứ chửi bới ăn thô nói tục kiểu gì đi nữa cũng không sao, bởi vấn đề lớn của tôi bây giờ chỉ là sức khỏe, chỉ là cái mạng của tôi thôi.

Cảm ơn ở đây có một người dặn tôi “đừng cố quá kẻo quá cố”. Tôi không phải đau thận mà là đau ruột, đau phía trước. Tôi có hỏi cô Phật tử ở đây thì cổ nói đó là ruột, cổ mong mỏi chân thành là tôi bị virus tấn công do thức ăn. Cũng mong vậy chứ như TT Thiện Nhân ở chùa Xá Lợi Phật Đài thì kẹt lắm, cứ lâu lâu rối ruột thì đi cắt bớt một khúc. Cái này thì đau lạ lắm, đau râm râm như lâu lâu ai nhéo một cái vậy đó. Cảm ơn những góp ý của mọi người. Rồi sẽ qua đi, nhưng tôi phải nói để cho bà con run.

^^^

-ooOoo-
-