hot
Bài đăng nổi bật
TỦ SÁCH PHẬT HỌC DÀNH CHO SMARTPHONE
Trong cuộc sống hiện đại, sách điện từ đang dần thay thế sách giấy. Các tác phẩm Phật học, trong đó có Kinh Phật, cũng không ngoài quy luật ...
Tìm kiếm Blog này
Lưu trữ Blog
- tháng 11 2021 (1)
- tháng 8 2021 (3)
- tháng 6 2021 (1)
- tháng 5 2021 (4)
- tháng 2 2021 (1)
- tháng 10 2020 (6)
- tháng 9 2020 (5)
- tháng 7 2020 (3)
- tháng 5 2020 (2)
- tháng 4 2020 (8)
- tháng 3 2020 (9)
- tháng 2 2020 (67)
- tháng 1 2020 (255)
- tháng 12 2019 (102)
- tháng 11 2019 (5)
- tháng 10 2019 (22)
- tháng 9 2019 (37)
- tháng 8 2019 (31)
- tháng 7 2019 (4)
- tháng 1 2019 (8)
- tháng 7 2018 (2)
- tháng 2 2018 (1)
Từ khoá
random posts
Labels
Popular Posts
-
Trong cuộc sống hiện đại, sách điện từ đang dần thay thế sách giấy. Các tác phẩm Phật học, trong đó có Kinh Phật, cũng không ngoài quy luật ...
-
Có một lần buổi chiều Ngài Xá Lợi Phất đang ngồi trong hương thất giữa rừng, Ngài nghe tiếng nói bằng thiên nhĩ : “ Hãy cho tôi vào gặp Ngài...
-
KINH TƯƠNG ƯNG BỘ Samyutta Nikàya Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt _______________________________ Mục lục các Tậ...
-
KINH TIỂU BỘ Khuddhaka Nikàya Tập II Giáo sư Trần Phương Lan dịch Anh-Việt CHUYỆN NGẠ QUỶ -ooOoo- GIỚI THIỆU ...
-
Tóm tắt I) Tạng Luật: Những quy định của Đức Phật về những gì tăng ni nên làm và không nên làm. II) Tạng Kinh: Nội dung Tứ Diệu Đế đượ...
-
KINH TƯƠNG ƯNG BỘ Samyutta Nikàya Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt TẬP IV - THIÊN SÁU XỨ / CHƯƠNG 2 36. Tươn...
-
KINH TĂNG CHI BỘ Anguttara Nikàya Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt _______________________________ Mục lục các Chươ...
-
KINH TIỂU BỘ Khuddhaka Nikàya Tập II Giáo sư Trần Phương Lan dịch Anh-Việt CHUYỆN THIÊN CUNG -ooOoo- Mục lục ...
-
KINH TƯƠNG ƯNG BỘ Samyutta Nikàya Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt TẬP II - THIÊN NHÂN DUYÊN / CHƯƠNG 5 16. Tư...
-
KINH TRƯỜNG BỘ Dìgha Nikàya Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt -ooOoo- MỤC LỤC KINH TRƯỜNG BỘ Lời giới thiệu 01. Ki...
Phật
Tăng
‹
›
Thần Thông
Thiên Giới
Chùa
Đọa Xứ
Video
Phạm thiên Bakka được các vị thần cho là vị Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh.
Bản thân Phạm thiên Bakka, cho đến khi được Đức Phật giáo giới, cũng nghĩ: "Ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh".
Nhưng thực tế không phải vâỵ.
Có 3 bài kinh nói lên điều ngộ nhận đó.
I. Kinh Trung Bộ / 49. Kinh Phạm Thiên cầu thỉnh
Tóm tắt:
Phạm thiên Baka, là vị Đại Phạm Thiên (ngôi vị cao nhất của cõi trời SẮC GIỚI Sơ Thiền). Phạm thiên Baka từng là một chúng sanh tại cõi trời Quang âm thiên (cõi trời cao nhất của SẮC GIỚI Nhị Thiền), nhưng vì trú ở cõi Phạm Thiên lâu quá nên không nhớ được.Vì nghĩ mình là đấng Toàn năng, Chúa tể mọi định mạng..., ông có tà kiến về sự thường còn. Biết được điều này Đức Phật tới gặp ông để giáo giới.
"Này Phạm thiên, có ba loại chư Thiên mà Ông không biết, không thấy, nhưng Ta biết, Ta thấy. Này Phạm thiên, có loại chư Thiên tên là Abhassara (Quang âm thiên), từ chư Thiên này, Ông mạng chung, và sanh ở nơi đây. Nhưng vì Ông an trú ở đấy quá lâu, nên Ông không nhớ được. Do đó, Ông không biết, không thấy, còn Ta biết, Ta thấy. Như vậy, này Phạm Thiên, Ta còn không chịu ngang hàng Ông về thượng trí huống nữa là thấp hơn. Do vậy, Ta thù thắng hơn Ông.".Ác Ma tìm cách phá. Phạm thiên Baka muốn thị hiện thần thông bằng cách biến mất, để chứng tỏ lời Đức Phật không đúng. Trước mặt Phật thần thông của vị này trở nên vô hiệu, ông không có thể biến đi đâu được. Trái laị, Phật đã thị hiện thần thông bằng cách biến mất trước mặt chúng Phạm thiên, trong khi mọi người vẫn nghe được tiếng Phật đọc một bài kệ.
II. Tương Ưng Bộ / Tập I - Thiên Có Kệ / [06] Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên / I. Phẩm Thứ Nhất / IV. Phạm Thiên Baka (S.i.142)
Tóm tắt:
Kinh này cũng nói Đức Phật tới giáo giới Phạm Thiên Baka về tà kiến thường còn, nhưng khác kinh trước. Phật kể cho Phạm Thiên Baka về những công đức ông đã làm trong các đời trước, nhờ vậy ông có được ngôi vị Ðại Phạm thiên như ngày nay.[Trích kinh]
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
2) Lúc bấy giờ, Phạm thiên Baka khởi lên ác tà kiến như sau: "Ðây là thường. Ðây là thường hằng. Ðây là thường trú. Ðây là viên mãn. Ðây là bất động. Ðây là không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi. Và ở ngoài đây ra, không có một sự giải thoát nào khác".
3) Rồi Thế Tôn, với tâm tư của mình, biết được tâm tư của Phạm thiên Baka. Như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Ngài biến mất ở Jetavana (Thắng Lâm) và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy.
4) Phạm Thiên Baka thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền bạch Thế Tôn:
-- Hãy đến đây, Tôn giả ! Ðón chào mừng Tôn giả! Thưa Tôn giả, đã từ lâu Tôn giả tạo ra cơ hội này, tức là đến đây. Thưa Tôn giả, đây là thường. Ðây là thường hằng. Ðây là thường trú. Ðây là viên mãn. Ðây là bất động. Ðây là không có sanh, không có già, không có chết, không có diệt, không có khởi. Ngoài đây ra, không có một pháp giải thoát nào khác hơn.
5) Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Phạm thiên Baka:
-- Ông thật là vô minh, này Phạm thiên Baka! Ông thật là vô minh, này Phạm thiên Baka! Ở đây, cái vô thường lại nói là thường. Cái không thường hằng lại nói là thường hằng. Cái không thường trú lại nói là thường trú. Cái không viên mãn lại nói là viên mãn. Cái không bất động lại nói là bất động. Và ở đây có sanh, có già, có chết, có diệt, có khởi, lại nói ở đây không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi. Và có pháp giải thoát khác nữa, lại nói là không có pháp giải thoát nào khác.
6) (Baka):
Này Ngài Gotama,
Bảy hai công đức nghiệp,
Chúng ta ngự thế giới,
Chinh phục sanh và già,
Ðây đời sống cuối cùng,
Thâm hiểu Thánh Vệ-đà,
Ðạt được Phạm thiên vị,
Nhiều người lễ bái ta.
7) (Thế Tôn):
Ngắn thay đời sống này,
Thọ mạng đâu có dài,
Chỉ có Ông, Baka,
Nghĩ rằng thọ mạng dài,
Ta biết thọ mạng Ông,
Này Brahma như vậy,
Khoảng trăm ngàn năm dư,
(Nirabbudànam).
8) (Baka):
Nếu Ngài là Thế Tôn,
Thấy được sự bất tận,
Ngài vượt qua, chinh phục,
Sanh già và sầu muộn,
Giới hạnh thuở xưa ấy,
Nào ích gì cho con,
Hãy nói lên cho con,
Ðể con biết rõ ràng.
9) (Thế Tôn):
Có khá đông nhiều người,
Khát nước và nhiệt não,
Quá khứ Ông cho uống,
Và cứu độ nhiều người.
Chính giới ấy, hạnh ấy
Của Ông trong thời xưa,
Như kẻ ngủ được thức
Ta có nhớ như vậy.
Tại bờ sông Sơn Dương,
Khi quần chúng bị bắt,
Ông giải thoát cho họ,
Ông dắt trốn kẻ tù.
Chính giới ấy, hạnh ấy,
Của Ông trong thời xưa,
Như kẻ ngủ được thức,
Ta có nhớ như vậy.
Khi giữa dòng sông Hằng,
Có thuyền bị công hãm,
Bởi loại rắn bạo ngược
Muốn nuốt sống loài Người,
Với sức mạnh thần lực,
Ông chinh phục, giải cứu,
Chính giới ấy, hạnh ấy,
Của ông trong thời xưa,
Như kẻ ngủ được thức,
Ta có nhớ như vậy.
Ta với tên Kappa,
Một thời đệ tử Ông,
Ta được Ông xác nhận,
Bậc thông minh trí tuệ,
Chính giới ấy, hạnh ấy,
Của Ông trong thời xưa,
Như kẻ ngủ được thức,
Ta có nhớ như vậy.
10) (Baka):
Chắc chắn Ngài được biết,
Thọ sanh con như vậy,
Ngài cũng biết người khác,
Vì Ngài, bậc Giác Ngộ.
Như vậy oai đức Ngài,
Chói sáng là như vậy,
Hào quang Ngài sáng chói,
An trú Phạm thiên giới.
[Hết trích]
III. Kinh Trường Bộ / 11. Kinh Kevaddha (Kiên Cố)
Tóm tắt:
Kinh kể chuyện một vị Tỷ-kheo đi hỏi khắp các tầng trời "Này Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?".Không vị Thần nào biết, kể cả vị Phạm Thiên được cho là "Ðại Phạm thiên, Đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh" (Phạm thiên Bakka).
Khi được vị Tỷ-kheo kia tới hỏi, Phạm thiên này không biết nhưng xấu hổ, phải kéo Tỷ-kheo sang bên và nói nhỏ phải đến hỏi Thế Tôn.
Nghiên cứu - Pháp - Thiên Giới
Ngũ uẩn, là năm nhóm tượng trưng cho năm yếu tố tạo thành con người, toàn bộ thân tâm. Ngoài ngũ uẩn đó ra không có gì gọi là cái "ta".
Ngũ uẩn là:
Sắc uẩn, chỉ sự nhận biết mình có thân và sáu giác quan (hay còn gọi là lục căn, bao gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý), do Tứ đại chủng tạo thành, đó là bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa. Sắc tạo nên các giác quan và đối tượng của chúng. Cái biết của sắc uẩn gọi là sắc thức, là sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan: Ý thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sắc thức phụ thuộc vào sáu căn tiếp xúc với sáu trần để hình thành nên sáu thức. (Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là sắc? Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc).Thọ uẩn, tức là toàn bộ các cảm giác, cảm nhận sự thay đổi chung quanh, không phân biệt chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính. (Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thọ? Ðược cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Ðược cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ).
Tưởng uẩn là nhận biết sự khác biệt, như là màu này khác màu kia, mùi này khác mùi kia... (Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là tưởng? Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng. Nhận rõ gì? Nhận rõ màu xanh, nhận rõ màu vàng, nhận rõ màu đỏ, nhận rõ màu trắng. Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng).
Hành uẩn, Hành là ý định, toan tính, suy tư, cân nhắc trước 1 quyết định. Hành bao gồm tất cả các chủ tâm trước khi một hành động được hình thành. Hành là đối tượng đã tạo nên nghiệp thiện ác (Gồm Thân hành, Khẩu hành, Ý hành). (Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là hành? Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là các hành).
Thức uẩn, là sự nhận thức nhờ mặc định, mặc định cái này chua, mặc định cái kia đắng, mặc định cái nọ màu đỏ, mặc định cái kia nóng, cái này lợi, cái kia không lợi... Đây cũng là bước chuyển tiếp của tưởng uẩn và hành uẩn, từ sự cảm nhận sự khác biệt rồi suy tư cân nhắc xem mức độ khác biệt như thế nào, cho đến định nghĩa sự khác biệt bằng những danh từ hay tên gọi cho từng sự vật, sự việc, hiện tượng... (Và này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thức? Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm... rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức).
Ngũ uẩn cũng được gọi là năm ràng buộc vì chỉ có Phật hay A-la-hán mới không bị dính mắc nơi chúng. Đặc tính chung của chúng là Vô thường, Vô ngã và Khổ.
Tính chất khổ và vô thường của năm uẩn là một trong những quan điểm quan trọng nhất của Phật giáo. Khổ xuất phát từ lòng ham muốn, không hiểu sự vô thường của ngũ uẩn, không chắc thật của các uẩn đó; và con người được tạo thành từ năm uẩn đó không gì khác hơn là một sự giả hợp, không có một cái "ta" thật sự đứng đằng sau con người đó (Vô ngã). Tri kiến về tính vô ngã của ngũ uẩn là một tri kiến rất quan trọng, nó có thể đưa đến giải thoát.
Đại sư người Đức Nyānatiloka trình bày như sau về tầm quan trọng đó:
"Đời sống của mỗi chúng ta thực chất chỉ là một chuỗi hiện tượng thân tâm, một chuỗi hiện tượng đã hoạt động vô lượng kiếp trước khi ta sinh ra và sẽ còn tiếp tục vô tận sau khi ta chết đi. Ngũ uẩn này, dù riêng lẻ từng uẩn hay hợp chung lại, chúng không hề tạo thành một cái gì gọi là cái ta. Ngoài chúng ra, không còn cái gì được gọi là một thể của cái ta độc lập với chúng, để ta tạm gọi nó là cái ta. Lòng tin có một cái ta, có một nhân cách độc lập chỉ là một ảo tưởng."Joseph Goldstein cũng viết:
"Cái mà chúng ta gọi là cái ta chỉ là ngũ uẩn đang hiện hành vô chủ".Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nghiên cứu - Pháp
Theo Kitô giáo, Chiến tranh trên Thiên đàng là một cuộc chiến đã diễn ra trên Thiên đàng, khi mà Tổng lãnh thiên thần Lucifer lãnh đạo một phần ba các Thiên thần trên Thiên đàng nổi loạn chống lại Thiên Chúa và các thiên thần trung thành với Người.
Nguyên nhân chiến tranh
Nguyên nhân sâu xa nhất dẫn đến việc Lucifer phát động cuộc bạo loạn này là sự sáng tạo ra loài người, và trên hết là việc Thiên Chúa ra lệnh cho toàn thể các thiên thần cúi mình trước loài người, đặc biệt là việc phải tôn thờ một vị Đấng Cứu Thế là Chúa Giêsu Kitô - Ngôi Hai Thiên Chúa (hay Chúa Con) nhưng được sinh ra làm người để cứu chuộc nhân loại và mang cả hai bản tính: Thiên Chúa và con người (nghĩa là Chúa Giêsu là Con của Thiên Chúa Cha nhưng cũng đồng thời là Thiên Chúa, tồn tại từ trước muôn đời nhưng nhập thể xuống làm con người để cứu chuộc nhân loại). Lucifer coi đây là một sự sỉ nhục và bất công, y muốn chính mình được hiệp cùng bản tính Thiên Chúa chứ không phải là một con người nào. Sau đó y bèn tập hợp các thiên sứ khác - những thiên sứ cũng coi việc cúi mình trước loài người là một sự sỉ nhục khi mà họ mới chính là tạo vật đầu tiên của Thiên Chúa.Cuộc chiến
Với đầy sự ngạo mạn, Lucifer đưa ra một lời tuyên chiến rằng "Ta (Lucifer) sẽ ở trên thiên đàng; ta sẽ khắc tên ta lên trên những vì sao của Thiên Chúa; ta sẽ ngồi trên vị trí lãnh chúa của mọi thứ, trên mọi đỉnh cao nhất của mọi ngọn núi linh thiêng nhất. Ta sẽ lên cao hơn các đám mây; ta sẽ như Đấng Tối cao."Thiên Chúa cho Tổng lãnh thiên thần Michael chống lại Lucifer và bè lũ của y. Với quyền lực Chúa ban cho, Michael cùng các Thiên thần trung thành nhanh chóng chiến thắng Lucifer và bè lũ phản nghịch. Lúc đó, Lucifer được Michael đặt cho tên mới là Satan. Kết thúc trận chiến, Lucifer và tất cả các thiên thần theo y bị đuổi khỏi Thiên đàng như là một sự trừng phạt cho cuộc nổi dậy của chúng. Nhiều ngàn năm sau đó, Chúa Giêsu nói rằng Người đã thấy Lucifer bị ném xuống trái đất như một tia chớp giáng xuống mặt đất. Trong thế kỷ 13, theo Đức Giám mục của Tusculum (khoảng 1273) ước tính là 133.306.668 thiên thần đã bị đày xuống từ các thiên đàng trong tổng cộng 9 ngày, và con số này về sau được học giả thế kỷ thứ 15 Alphoso de Spina (khoảng 1460) tái xác nhận.
Theo Kinh Phật Nguyên Thủy
Giữa các Thiện Thần ở tầng trời Ba Mươi Ba (Tam thập tam thiên, hoặc tên khác: Tầng trời Đao Lợi) (1) và Các Ác Thần ở thế giới A-Tu-La thường xảy ra chiến tranh. Các Ác Thần A-Tu-La (có thần thông như các Thiện Thần cõi trời Ba Mươi Ba) thường gây chiến trước với cõi trời Ba Mươi Ba.Thiện Thần cõi trời Ba Mươi Ba thường thắng trận, nhưng đôi khi cũng thua phải bỏ chạy.(2)
Đôi khi có Thiện Thần sợ chết không tuân lệnh Vua Sakka (vua cõi trời Ba Mươi Ba) đi đánh nhau với A-Tu-La, như các thần Suvìra và Susìma. (3)
Trong cuộc chiến, các thần cũng bị phe đối phương bắt làm tù binh và có khi bị xử tử. Kinh có ghi laị trường hợp hai Thiện Thần Suriya và Candima thua trận bị Ràhu, vua A-Tu-La bắt làm tù binh. Hai vị này khấn lạy Phật xin được Phật cứu sống và được làm đệ tử Phật. Từ chỗ ngồi thiền định Phật nghe được lời cầu nguyện của hai vị, liền dùng thần thông ra lệnh cho Ràhu, vua A-Tu-La thả hai vị ra, vì họ đã quy y trở thành đệ tử của Ngài. Ràhu hoảng sợ vội thả Suriya và Candima. Thả xong hai vị, Ràhu vẫn chưa hết run sợ vội chạy đến bẩm báo với Vepacitti, Vua của các vua A-Tu-La: "... hốt hoảng, Ràhu đi đến Vepacitti, vua A-tu-la, run sợ, lông tóc dựng ngược".(4)
Có lần hai hai vua, vua Sakka (Thiên chủ cõi Tam thập tam thiên) và vua Vepacitti (A-Tu-La) quyết định chiến nhau bằng hình thức đấu khẩu. Vua nào nói được nhiều thần (cả hai phe) tán thưởng hơn thì vua đó thắng. Kết quả vua Sakka thắng.
------------
(1) Tầng trời Ba Mươi Ba là tầng trời thứ hai trong sáu cõi trời dục giới. Trên Tầng trời Ba Mươi Ba còn có 4 cõi trời dục giới khác.
(2) Kinh Tương Ưng Bộ / Tập I - Thiên Có Kệ / [11] Chương XI. Tương Ưng Sakka / Phẩm Thứ Nhất / VI. Tổ Chim
(3) Kinh Tương Ưng Bộ / Tập I - Thiên Có Kệ / [11] Chương XI. Tương Ưng Sakka / Phẩm Thứ Nhất / I. Suvìra (S.i,216);
Kinh Kinh Tương Ưng Bộ / Tập I - Thiên Có Kệ / [11] Chương XI. Tương Ưng Sakka / Phẩm Thứ Nhất / II. Susìma (S.i,217)
(4) Kinh Tương Ưng Bộ / Tập I - Thiên Có Kệ / [02] Chương II. Tương Ưng Thiên Tử / I. Phẩm Thứ Nhất (S.i,46) / IX. Candima (S.i,50) (Nguyệt Thiên tử, Tạp 22.8 Nguyệt Thiên tử, Ðại 2, 155a) (Biệt Tạp 9.7, Ðại 2, 436a);
Kinh Tương Ưng Bộ / Tập I - Thiên Có Kệ / [02] Chương II. Tương Ưng Thiên Tử / I. Phẩm Thứ Nhất (S.i,46) / X. Suriya: (S.i,51) Nhật Thiên tử]
(5) Kinh Tương Ưng Bộ / Tập I - Thiên Có Kệ / [11] Chương XI. Tương Ưng Sakka / Phẩm Thứ Nhất / V. Thắng Lợi Nhờ Thiện Ngữ (S.i,222)
Cư Sĩ
Nghiên cứu - Thiên Giới
Thế giới Phạm thiên – Brahmā Loka , Saṃyutta Nikāya SN6, TPT dịch từ Pāli – 2015
BY THIENDINHTUTAP ON MAY 30, 2015
Thế giới Phạm thiên – Brahmā Loka , Saṃyutta Nikāya SN6
Ghi Chú:
Vũ trụ quan nhà Phật được giải thích vắn tắt ở đây gồm có ba Cõi:
(1) Cõi Dục hay Cõi Tham ái (Kama Loka) là những cõi xứ thấp nhất gồm có Địa ngục, Trái đất và sáu Cõi thiên dục giới.
(2) Cõi Sắc (Rūpa Loka), có hình tướng, là những cõi thiên có vị trí ở giữa.
(3) Cõi Vô Sắc (Arūpa Loka), không có hình tuớng, là những cõi thiên ở trên cùng.
Thế giới Phạm thiên bao gồm (2) và (3).
– Cõi Vô Sắc là nơi cư trú của những Phạm thiên vô sắc, những thiên giả đã chứng bốn cấp thiền vô sắc (Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ). Những vị này sống rất lâu, thọ mạng có thể lâu đến nhiều đại kiếp (hay ‘kappa’ là một đơn vị thời gian rất lâu xa, không thể tính được, ví như gấp nhiều lần số cát sông Hằng ở Ấn độ). Tuy thế họ vẫn còn có thể rơi xuống những cõi thấp hơn khi thọ mạng chấm dứt do đã thụ hưởng hết phần công đức của mình. Những thiên giả này không có hình thể vật chất hay nơi chốn rõ ràng, không có khả năng học/nghe pháp, và cũng không hề giao tiếp với những cõi xứ khác.
– Cõi Sắc bao gồm Tịnh cư thiên (Suddhāvāsā Devā), cõi xứ Bṛhatphala, cõi xứ Subhakṛtsna, cõi xứ Quang minh thiên (Quang âm thiên /Ābhassarā Devā), và cõi xứ Phạm thiên.
(2.1) Trong Tịnh cư thiên, chư vị Bích chi Phạm thiên (Pacceka Brahmā) là những Tu sĩ hay những Cư sĩ đã chứng quả Nhất lai (A na hàm/Anāgāmi) dưới thời các Đức Phật chánh toàn giác và đã được hoá sanh về nơi đây. Họ tiếp tục sống trong cõi xứ của mình và tu tập qủa vị A la hán cho đến khi thành đạt, có thể kéo dài trong nhiều đại kiếp.
Những Bích chi Phạm thiên cũng thường hay xuất hiện xuống những cõi xứ thấp hơn trong thời gian ngắn, để trông chừng, bảo vệ và cố vấn cho những chúng sanh khác.
Phương pháp tốt nhất để trở thành Bích chi Phạm thiên và A la hán là tu tập theo Trung bộ Kinh Niệm Xứ MN10: Satipaṭṭhāna Sutta và Trường bộ Kinh Đại Niệm Xứ DN22: Mahasatipaṭṭhāna Sutta.
Trong Tăng chi bộ Kinh AN9.36: Jhana Sutta, Đức Phật nói: ‘Dứt trừ hoàn toàn năm Hạ Kiết sử (Ngã kiến/thân kiến hay quan điểm sai lầm về thân, Giới cấm thủ hay những cúng tế lễ lộc mê tín, Nghi ngờ chánh pháp, Tham lam, Sân hận/thù oán), hành giả được tái sinh (về Tịnh cư thiên), hoàn toàn tự do, không còn trở lại nơi nào khác từ thế giới đó’.
Những đoạn cuối trong Trường bộ Kinh DN14: Mahāpadāna Sutta có mô tả một lần Đức Phật đã lên thăm năm cõi xứ trong Tịnh cư thiên. Nơi đó chư vị Bích chi Phạm thiên, từ thời Đức Phật Vipassī 91 đại kiếp về trước, từ thời Đức Phật Sikhī 31 đại kiếp về trước, từ thời năm Đức Phật kế tiếp, tất cả đều ra nghênh đón Đức Phật.
(2.2) Cõi xứ Bṛhatphala là quê hương của những vị Phạm thiên đã chứng Tứ thiền, đặc biệt tâm rất thanh tịnh. Những thiên giả này thường tu tập định vô tưởng để loại hết những khổ đau và sống trong trạng thái vô tưởng này. Nhưng khi mãn kiếp họ có thể tái sinh về những cõi xứ khác và trở lại trạng thái bình thường.
(2.3) Trong Cõi xứ Śubhakṛtsna có những thiên giả đã chứng được Tam thiền. Thân họ phát ra ánh sáng một cách đều đặn và sống trong tĩnh lặng. Thọ mạng của thiên chúng này là bốn đại kiếp.
(2.4) Quang minh thiên (Ābhassarā/Quang âm thiên) là nơi những thiên giả đã đạt đến Nhị thiền. Thọ mạng của họ là hai đại kiếp. Trong Kinh Trường bộ DN27: Aggañña, Đức Phật nói với Vāseṭṭha: “Sau một thời gian thế giới này hoại diệt. Khi đó phần đông chúng sanh được tái sanh về Quang Minh Thiên. Nơi đó họ được tâm tạo ra, sống với nguồn hỷ, tự chiếu sáng, du hành qua không gian, sống trong vinh quang trong một thời gian rất dài lâu. Rồi đến một giai đọan chuyển tiếp sau đó, thế giới này bắt đầu thành hình, những chúng sanh mãn kiếp tại Quang Minh Thiên lại tái sanh thành loài người trên qủa đất này”.
Trong Trung bộ Kinh MN127: Anuruddha Sutta, Tôn giả Anuruđha nói với Tôn giả Abiya Kaccāna: ‘Trong một thời gian rất lâu xa, chính tôi đã hội nhập và hàn huyên với những thiên giả Quang minh thiên’.
(2.5) Trong cõi xứ Phạm thiên, những thiên giả lệ thuộc vào Nhất thiền. Thọ mạng của họ là một đại kiếp, hưởng thụ mọi đặc quyền và hạnh vận của mình do những công đức đã tạo dựng từ trước. Những thiên giả này có thể biết được những gì đang xảy ra trong những cõi xứ thấp hơn, nhưng không hay biết gì về những cõi xứ cao hơn xứ sở của mình.
Trong cuối Trung bộ kinh MN99: Subha Sutta, thanh niên Subha có hỏi Đức Phật về con đường dẫn đến cõi Phạm thiên và đã được Đức Phật chỉ dẫn tường tận. Cũng trong Trung bộ Kinh MN 97: Dhānañjāni Sutta, Tôn giả Sāriputta đã viếng thăm Cư sĩ Dhānañjāni đang hấp hối trên giường bệnh, và đã chỉ dẫn cùng phương pháp hướng tâm ‘từ bi hỉ xả’ về cõi Phạm thiên. Cư sĩ Dhānañjāni sau đó được Đức Phật xác nhận đã sinh về cộng trú với chúng Phạm thiên.
Hành giả có thể tu tập theo những phép quán hướng tâm ‘từ bi hỉ xả’ đến mọi phương xứ, không sân hận thù oán đến muôn loài chúng sanh để được sinh về cõi xứ Phạm thiên.
Kinh trường bộ DN1: Brahmajāla Sutta có đề cập về trường hợp một thiên giả trong cõi xứ Quang minh thiên khi mãn kiếp đã được tái sanh như kẻ đầu tiên về cõi xứ Phạm thiên đang còn trống vắng không một bóng dáng nào khác. Nơi đó ông ta tận hưởng cuộc sống thanh nhàn trong một thời gian rất lâu xa. Nhưng vì đã sống đơn độc trong thời gian dài lâu, ông ta tự cảm thấy lẻ loi và giao động. Từ đó ông ta mong mỏi những chúng sanh khác về nơi đó cùng chung sống với ông ta. Ông ta được mãn nguyện về điều này. Rồi ông ta lại phát sinh ý nghĩ: ‘Ta là Phạm thiên vĩ đại nhất, là Thượng đế, là Đấng sáng tạo, tất cả những thiên giả đến sau này đếu do ta tạo ra vì lý do chính ta đã mong ước được như vậy’.
Vị Phạm thiên đầu tiên này lại có được thọ mạng lâu dài hơn, diện mạo xinh đẹp tốt tướng hơn, uy quyền nhiều hơn những Phạm thiên khác. Rồi những Phạm thiên khác cũng nghĩ rằng chúng ta được tạo ra từ vị Phạm thiên này bởi vì chúng ta đến sau ông ta.
Cho đến lúc một Phạm thiên nơi đó mãn kiếp và được tái sinh về trái đất này. Người đó rời nhà sống ẩn dật vô gia cư. Qua sự chuyên cần và trầm tư mặc tưỡng, ông ta nhập vào thiền định khá sâu khiến ông ta có thể nhớ lại được kiếp sống ngay trước kiếp này. Sau đó ông ta đi loan truyền với thiên hạ: ‘Này chúng dân, tất cà chúng đều được sinh ra từ vị Trời ấy, vị Đại Phạm thiên, Thượng đế, Đấng sáng tạo! Vị ấy thường hằng, sống vĩnh cửu, trong khi chúng ta những người bình thường thì không được như vậy’.
Đây là một trong những đoạn kinh ấn tượng, nói về sự vô thường (anicca): tất cả phải chịu sự biến hoại, không có gì là trường tồn vĩnh cửu. Ý niệm ‘vô thần quyền’ này được xem như quan điểm ‘vô Thượng đế hay không có Đấng sáng tạo’ trong niềm tin Nhà Phật.
Bất cứ một Đấng Như Lai nào cũng đều được xem như là vị Thầy của Trời và Người. Ý nghĩa này được làm sáng tỏ trong những bài Kinh sau đây.
Tin hay không? Trong Tăng chi bộ Kinh AN3.65: Kalama Sutta, Đức Phật đã có lời khuyên: “Đừng chạy theo những gì được nghe đi nghe lại, hoặc bởi truyền thống, bởi lời đồn đại, bởi kinh sách, bởi phỏng đoán, bởi suy diễn, bởi tương tự, bởi thiên kiến, bởi sự khả thi, hoặc bởi nghĩ rằng: ‘Vì nhà sư này là Thầy của mình’. Tuy nhiên, khi chính bản thân mình hiểu rõ rằng: ‘Những điều này là tốt lành, không tội lỗi, được người trí khen ngợi, nếu được nhận lãnh và chu toàn, sẽ đem lại phúc lợi và an lạc’. Do đó hãy hội nhập và sống mái với chúng”.
Nguồn: kinhnikaaya.wordpress.com
Nghiên cứu
Theo quan niệm của Hindu giáo, Phạm thiên hay Đại Phạm thiên là vị thần sáng tạo của vũ trụ này, giống như Thượng đế hay Sáng tạo chủ. Vị thần Brahmā là một trong ba vị thần nổi tiếng của đạo Hindu. Brahmā là cha của Manu, con người đầu tiên trên thế gian này và từ đó loài người được sinh ra. Do đó, Phạm thiên được tôn thờ như là đấng Sáng tạo, sinh ra loài người. Hình tượng Phạm thiên trong Hindu giáo luôn là một vị thần có bốn mặt và bốn cánh tay. Bốn mặt chính là tượng trưng cho bốn bộ Veda (1) và bốn cánh tay đại diện cho bốn hướng chính (Đông, Tây, Nam, Bắc). Không giống như nhiều vị thần Hindu khác, thần Brahmā không mang bất kỳ vũ khí nào. Trong tín ngưỡng của người Thái, hình tượng thần Brahmā với bốn mặt và tám tay.
Riêng về Phật giáo, Phạm thiên là vị đã chứng đắc được các tầng thiền định, nếu không bị hoại thiền, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được tái sanh lên các tầng trời Sắc giới tương ứng với tầng thiền mình đã chứng đắc.
Theo Vũ trụ quan Phật giáo, thế giới sinh diệt theo luật Nhân quả, không do đấng nào sáng tạo ra cả. Và Brahmā chỉ là vị Đại thiên thần được sinh ra trước hết trong một chu kỳ thế giới này, nên tưởng rằng mình là sáng tạo thế giới, là chủ thế giới, nhưng thực ra cũng chỉ là một chúng sinh, dù cao quý hơn hẳn nhưng cũng không phải vĩnh cửu, không phải Thượng đế. Brahmā cũng nằm trong vòng sinh tử luân hồi, cũng chịu luật Nhân quả chi phối, có sinh và cũng có diệt. Vũ trụ này có sinh rồi cũng có diệt, và Brahmā cũng thế.
Chính trong kinh Phạm võng, Đức Thế Tôn đã kể lại rằng, khi thế giới này tiêu hoại xong, một thế giới mới mẻ được tạo thành và lúc đó trên tầng Phạm thiên giới có một vị Phạm thiên xuất hiện trước tiên, sống một mình tại đây, vị ấy được gọi là Đại Phạm thiên. Vì sanh ra trước nhất nên vị ấy nghĩ rằng: “Ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Những loài hữu tình ấy do chính ta sanh ra”(2). Vị Phạm thiên đầu tiên này lại có được thọ mạng lâu dài hơn, diện mạo xinh đẹp tốt tướng hơn, uy quyền nhiều hơn những Phạm thiên khác. Rồi những Phạm thiên khác cũng nghĩ rằng chúng ta được tạo ra từ vị Phạm thiên này bởi vì chúng ta đến sau vị ấy.
Đại Phạm thiên cũng như chư Phạm thiên khác không hẳn phải là bậc Dự lưu hay đang trên đường đi đến giác ngộ mà sự tái sanh của họ tùy thuộc nhiều vào lòng tịnh tín đối với Phật, Pháp và Tăng(3). Không cần phải là đệ tử của Phật mới được sanh lên cõi Phạm thiên; có rất nhiều trường hợp ghi lại rằng các môn đệ của các ngoại đạo sư cũng được sanh lên cõi Phạm thiên nhờ theo giáo pháp của chư vị ấy, các vị ngoại đạo sư ấy được biết đến là: Sunettto, Mūgapakkha, Aranemi, Kuddālaka, Hatthipāla, Jotipāla(4). Các kinh Bổn sanh có kể lại nhiều chuyện của các ẩn sĩ hành thiền quán, đắc thiền chứng và tái sanh lên cõi Phạm thiên. Một số Phạm thiên như Baka đã từng khởi lên tà kiến chấp rằng thế giới họ thường hằng; trong khi cũng như tất cả các thế giới khác, cõi Thiên sẽ bị biến hoại và đoạn diệt (5).
Có nhiều bản kinh Phật ghi lại sự hiện diện của Phạm thiên. Tuy nhiên, nổi tiếng và có sức quan trọng nhất là sự thỉnh cầu Đức Thế Tôn truyền bá giáo pháp của Phạm thiên Sahampati. Thuở ấy, sau khi trải qua bảy tuần lễ thọ hưởng sự an lạc của giải thoát trong khu vực gần Đại thọ Bồ-đề, Đức Phật rời khỏi chỗ ngồi dưới cội cây Rājāyatana và lại trở về cội cây si Ajapāla. Sau khi ngồi kiết-già dưới cội cây ấy trong cảnh vắng vẻ, Đức Phật đã khởi lên ý nghĩ: “Giáo pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm sâu huyền diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, chỉ còn bậc thiện trí mới thấu hiểu. Chúng sanh còn luyến ái trong nhục dục ngũ trần. Nếu Như Lai truyền dạy giáo pháp ấy, kẻ khác ắt không thể hiểu được. Thật là phí công vô ích”. Biết được ý nghĩ của Đức Thế Tôn, Phạm thiên Sahampati sợ rằng, nếu Đức Phật quyết định không đi truyền bá giáo pháp, và, vì chúng sanh không nghe được pháp diệt khổ thì thế gian sẽ bị tiêu vong nên đã xuất hiện và thỉnh nguyện Đức Thế Tôn truyền bá giáo pháp: “Bạch Đức Thế Tôn, cầu xin Ngài hãy truyền dạy giáo pháp! Có những chúng sanh bị ít nhiều cát bụi vướng trong mắt, nếu không được nghe giáo pháp của Phật sẽ bị trầm luân sa đọa. Nhưng họ cũng có thể ngộ được chân lý”(6).
Do lời thỉnh cầu của Phạm thiên Sahampati, Thế Tôn đã chấp nhận tuyên thuyết giáo pháp bất tử đến cho chúng sanh, những người hữu duyên nên tế độ. Và đây cũng là một trong những thường pháp của chư Phật. Trước khi Đức Thế Tôn thuyết pháp đầu tiên phải có vị Đại Phạm thiên thỉnh cầu(7). Lý giải nguyên nhân: Phạm thiên là một vị tôn quý tột bậc trong quan niệm Bà-la-môn, cả về phước đức, phẩm hạnh, quyền năng và trí tuệ, là vị vua cai quản cả cõi trời và cõi người. Vua cõi trời và cõi người mà còn biết cung kính Phật, thỉnh cầu Đức Thế Tôn thuyết pháp như thế thì chúng sinh sẽ nhận ra đâu là con đường chân chánh để quay về.
Trường hợp thân mẫu ngài Sāriputta, bà Sārī cũng vậy. Trước khi viên tịch, Tôn giả đã trở lại quê nhà để tế độ mẫu thân. Vào đêm cuối, chư vị Thiên vương, Thiên chủ, Phạm thiên lần lượt hiện xuống để kính lễ Tôn giả. Sau khi các vị Thiên chủ đã ra đi, thân mẫu vội vàng vào phòng của Tôn giả để hỏi thăm về những vị trời ấy. Tôn giả đã từ tốn giải thích đó là những vị trời nào, sự hộ pháp của họ ra sao, đã hầu hạ Đức Phật trong lúc Đản sanh, thưa thỉnh Đức Thế Tôn chuyển pháp luân lúc mới Thành đạo như thế nào… Nghe xong, bà vô cùng kính phục, không ngờ con của mình cao cả đến độ các vị trời cao quý, ngay cả đến Đại phạm thiên, Brahmā, vị trời cao cả nhất, tối thượng nhất mà cả xã hội cũng như bản thân bà luôn kính ngưỡng phụng thờ, cầu nguyện hàng trăm năm nay lại là đệ tử của Đức Thế Tôn. Bà liền phát khởi tín tâm, suy nghĩ: “Nếu oai lực của người con trai mình như thế thì oai lực vô biên của Đức Thế Tôn còn to lớn biết chừng nào!”. Bằng sự kính ngưỡng cao cả chưa từng có, đồng thời nghe xong bài pháp ngắn về công đức Phật, Pháp, Tăng của Tôn giả, toàn thể châu thân bà Sārī rúng động, tin sâu Tam bảo, hoan hỷ và an lạc phát sinh, chứng đắc quả vị Tu-đà-hoàn.
Trong sự kiện Đản sanh, khi Bồ-tát rời khỏi bụng mẹ, bốn vị Đại Phạm thiên, những bậc đã xa lìa phiền não, đón nhận Bồ-tát trong một tấm lưới vàng lúc Ngài sanh ra. Rồi họ đặt Ngài trước mặt hoàng hậu và nói rằng: “Hoàng hậu hãy hoan hỷ. Hoàng hậu sanh một bậc vĩ nhân”(8). Còn nhiều sự kiện khác được ghi lại sự hiện diện của các vị Phạm thiên, Đại Phạm thiên trong kinh điển nhưng các vị ấy đều không bao giờ nhận mình là Thượng đế cả, thậm chí Phạm thiên Sahampati còn khuyến khích người nữ Bà-la-môn từ bỏ cúng tế Phạm thiên. Đó là trường hợp thân mẫu của Tôn giả Brahmadeva. Vào một sáng nọ, Tôn giả đi khất thực ngang nhà mẫu thân, nhưng bà đang lo chăm chú cúng tế Phạm thiên, thấy vậy Phạm thiên Sahampati hiện xuống và nói với bà rằng, vị xứng đáng để cúng dường chính là Tôn giả Brahmadeva(9).
Tóm lại, Đại Phạm thiên hay Phạm thiên nói chung, theo quan niệm của Phật giáo cũng chỉ là vị thiên có oai đức hơn chúng sanh cõi thấp hơn mà thôi; không phải là đấng Sáng tạo hay là Thượng đế sinh ra muôn loài. Đừng lầm lẫn vị Phạm thiên cao quý với đức lành tứ vô lượng tâm để rồi cầu xin, mong cứu rỗi, ban phước lành. Phật giáo không chủ trương cầu xin và cũng không ai cho nếu như chúng ta không tự làm. Vì thế, hãy tự mình cứu lấy bản thân mình chứ đừng mong cầu ai phù hộ, vì chính bản thân họ chưa chắc đã được hạnh phúc tuyệt đối.
Samādhipuñño Định Phúc
Nguồn: giacngo.vn
___________
Chú thích:
1) Bốn bộ Veda: (1) Rig Veda: ca tụng các vị thần; (2) Sama Veda: thần chú trong nghi lễ; (3) Yayur Veda: những nghi lễ khác; và (4) Atharva Veda: giảng rộng về các bộ kinh kia.2) D.i.19 (Brahmajālasutta).
3) VibhA.437f.
4) A.iii.371 (Dhammikasutta).
5) M.i.327 (Brahmanimantanikasutta).
6) M.i.169 (Ariyapariyesanāsutta)
7) BvA.298
8) D.ii.15 (Mahānidānasutta).
9) S.i.140 (Brahmadevasutta).
Nghiên cứu
![]() |
| Hòa thượng Thích Minh Châu |
Đây là bài pháp thoại của Hòa thượng Minh Châu nhân ngày Đại lễ Phật Đản 2525 (1981) tại Thiền viện Vạn Hạnh, Phú Nhuận, Sài Gòn, giới thiệu Tăng Chi Bộ Kinh, Tập II-A (bộ cũ), gồm các bài kinh trong Chương Bốn Pháp.
-ooOoo-
Hôm nay là Đại lễ Phật Đản 2525 (1981), Viện Phật Học Vạn Hạnh chúng tôi cùng với các Phật tử trong nước và Phật tử năm châu bốn biển đang tưng bừng đón mừng Đại lễ với những nghi lễ trang nghiêm, với những cúng dường chân thành và đúng theo truyền thống hàng năm, bao giờ cũng vậy, đối với chúng tôi, cúng dường Pháp là cúng dường tối thượng. Nhân Đại lễ Phật Đản năm nay, chúng tôi phát hành Tăng Chi Bộ Kinh Tập II quyển A, đã được phát hành nhân dịp lễ kỷ niệm Phật Thành Đạo vừa qua.
Tăng Chi Bộ Kinh Tập II quyển A, tức là Bộ Anguttara Nikàya gồm có 5 tập, sưu tập các kinh tùy theo số lượng từ 1 pháp lên đến 11 pháp, và tập này chỉ gồm một chương, là chương đề cập đến bốn pháp.
Trong Tập II quyển A, chương bốn pháp gồm có 27 phẩm, mỗi phẩm gồm 10 kinh, phẩm cuối gồm 11 kinh, như vậy số kinh tổng cộng là 271 bài, đánh số từ 1 đến 271, cho tiện tham khảo.
Đề tài được đề cập có thể nói là quá nhiều và quá phong phú, đến nỗi một sự phân loại các đề được nói đến thật không dễ dàng. Hôm nay, để giới thiệu Tăng Chi Bộ Kinh Tập II quyển A, nhân Đại lễ Phật Đản 2525 (1981), chúng tôi chỉ xin đề cập đến một số vấn đề mà chúng tôi xem là quan trọng, còn các vấn đề khác lẽ dĩ nhiên cũng rất quan trọng chúng tôi chỉ mong các độc giả tự mình đọc lấy, tìm hiểu và hành trì. Chỉ có vậy mới đánh giá đúng đắn Tập II quyển A, Tăng Chi Bộ Kinh và đi sâu vào phần nội dung của Tập Kinh này.
*
Trước hết, chúng tôi đề cập đến các bậc Như Lai nói chung, rồi đến Thế Tôn, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói riêng, những định nghĩa đã được dùng để diễn tả các Ngài và nhất là những đóng góp gì rất đặc biệt về những giáo lý chánh yếu, những pháp môn giảng dạy đã giúp chúng sanh thoát khỏi sự khổ đau.
Chúng tôi phải hạn chế những tư liệu chỉ trong Tăng Chi Bộ Kinh Tập II quyển A này mà thôi, có vậy mới làm nổi bật lên nội dung súc tích của bộ kinh này và cũng là một hình thức hay nhất để kỷ niệm Lễ Phật Đản 2525 năm. Cúng dường Pháp bao giờ cũng là cúng dường tối thượng.
Một vấn đề có thể làm nhiều người thắc mắc, trong quá khứ cũng như trong hiện tại, là Đức Phật là ai, Ngài là thần chăng, vị tiên chăng, Ngài là người như chúng ta chăng? Chúng ta là Phật tử, chúng ta là những người tìm hiểu Đạo Phật, chúng ta cần xem Đức Phật là ai, cho đúng với lời Phật dạy? Một câu hỏi về một số vấn đề đã được Đức Phật khéo giải đáp trong kinh số 36 về tùy thuộc thế giới.
Bà-la-môn Dona thấy dấu chân Đức Phật có dấu bánh xe (pháp luân) với đầy đủ tất cả chi tiết, khi Đức Phật đi trên con đường giữa Ukkatthà và Setabbya, liền suy nghĩ đây không phải là dấu chân của loài người, nên đến gần Đức Phật và hỏi: "Có phải Ngài sẽ là vị Tiên, Ngài sẽ là Càn Thát Bà, Ngài sẽ là Dạ Xoa, Ngài sẽ là loài người?" Với bốn câu hỏi này Đức Phật tuần tự trả lời: "Ta sẽ không phải là Tiên, Ta sẽ không phải là Càn Thát Bà, Ta sẽ không phải là Dạ Xoa, Ta sẽ không phải là người."
Câu trả lời làm cho Bà-la-môn Dona ngạc nhiên, và chúng ta cũng dễ hiểu, vì nếu Đức Phật trả lời: "Ta sẽ là chư Thiên... , hay Ta sẽ là loài người" tức là Đức Phật còn phải tái sanh, còn phải sanh tử luân hồi. Cho nên Đức Phật mới trả lời: "Ta sẽ không phải là chư Thiên, Ta sẽ không phải là Càn Thát Bà, Ta sẽ không phải là Dạ Xoa, Ta sẽ không phải là người." Nhưng câu trả lời đã làm cho Bà-la-môn Dona ngạc nhiên khiến phải hỏi tiếp: "Vậy sở hành của Ngài là gì, và tôn giả sẽ là gì?" Câu trả lời tiếp của Đức Phật rất là đặc biệt:
- "Này Bà-la-môn, đối những người chưa đoạn tận các lậu hoặc, Ta có thể là chư Thiên với các lậu hoặc đã đoạn tận, được chặt đứt từ gốc rễ, được làm thành như cây Ta La, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đối với những người chưa đoạn tận các lậu hoặc, Ta có thể là Càn Thát Bà, Ta có thể là Dạ Xoa, Ta có thể là loài người, với các lậu hoặc đã đoạn tận, được chặt đứt từ gốc rễ. Được làm thành như cây Ta La, được làm không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai..."
Như vậy, tùy thuộc chúng sanh được đề cập đến, đối với chúng sanh là Chư Thiên chưa đoạn tận các lậu hoặc, Đức Phật có thể là chư Thiên nhưng với các lậu hoặc đã đoạn tận, không còn sanh tử luân hồi. Đối với loài người chúng ta chưa đoạn tận các lậu hoặc, Đức Phật có thể là người, nhưng là một con người đã đoạn tận các lậu hoặc. Nói một cách khác, dầu thuộc loại chúng sanh hữu tình nào đang còn có lậu hoặc, đang còn sanh tử luân hồi, Đức Phật có thể là chúng sanh ấy, nhưng với các lậu hoặc đã đoạn tận. Chúng ta là người, Đức Phật đối với chúng ta là người, chỉ có sự sai khác, Đức Phật là người đã đoạn tận các lậu hoặc, còn chúng ta là người, nhưng chưa đoạn tận các lậu hoặc. Rồi Đức Phật cho chúng ta một thí dụ xác định rõ ràng vị trí của Ngài trong thế giới loài người: "Ví như này Bà-la-môn, bông sen xanh, bông sen hồng hay bông sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi mặt nước và đứng thẳng, không bị nước thấm ướt. Cũng vậy này Bà-la-môn, sanh ra trong đời, lớn lên trong đời, Ta sống chinh phục đời, không bị đời thấm ướt. Này Bà-la-môn, Ta là Phật, hãy như vậy thọ trì."
Rồi Đức Phật dùng một bài kệ phát họa hình ảnh của Ngài trong đời:
"Với lậu hoặc chưa đoạn,
Ta có thể là Tiên,
Có thể Càn Thát Bà,
Có thể là loài chim,
Hay đi đến Dạ Xoa,
Hay vào trong thai người
Với Ta, lậu hoặc tận,
Bị phá hũy, trừ khử,
Như sen trắng tươi đẹp,
Không bị nước thấm ướt,
Đời không thấm ướt Ta,
Do vậy Ta được gọi,
Ta là Phật, Chánh Giác,
Hỡi này Bà-la-môn."
Đức Phật đã sống trong đời, không bị đời uế nhiễm, nhưng đã gọi là Như Lai (Tathàgata) tức có nghĩa là vị đã thật sự hiểu đời, hiểu thế giới như thể nào mới không bị đời uế nhiễm, như kinh thế giới số 23 đã nêu rõ:
"Này các tỷ kheo, thế giới được Như Lai chánh đẳng giác, Như Lai không hệ lụy với đời. Này các tỷ kheo, thế giới tập khởi được Như Lai chánh đẳng giác. Thế giới tập khởi được Như Lai đoạn tận. Này các tỷ kheo, thế giới đoạn diệt được Như Lai chánh đẳng giác. Thế giới đoạn diệt được Như Lai giác ngộ. Này các tỷ kheo, con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai chánh đẳng giác. Con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai tu tập."
- "Cái gì này các tỷ kheo, trong toàn thế giới với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa Môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu, được ý tư sát, tất cả đều được Như Lai chánh đẳng giác. Do vậy được gọi là Như Lai. Từ đêm, này các tỳ kheo, Như Lai được chánh đẳng giác, đến đêm Ngài nhập Niết bàn, trong thời gian ấy, điều gì Ngài nói, nói lên, tuyên bố, tất cả là như vậy, không thể khác được. Do vậy được gọi là Như Lai."
"Này các tỷ kheo, Như Lai nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy. Vì rằng nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy, nên được gọi là Như Lai."
"Này các tỷ kheo, trong toàn thể thế giới, Thiên giới, Ma giới, cùng các quần chúng Sa môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Như Lai là bậc Chiến Thắng, không bị ai chiến bại, toàn trí toàn kiến, đại tự tại. Do vậy, được gọi Như Lai."
Như kinh trên đã trình bày, Như Lai là một vị đã hiểu rõ thế giới, như vậy là đã đạt đến chỗ tột cùng của thế giới, mới có thể hiểu biết về thế giới. Nhưng phải ở trong thế giới, mới có thể hiểu biết thế giới, phải ở trong sinh tử mới có thể vượt khỏi sinh tử, như đã được trình bày trong kinh Rohitassa số 45. Trong kinh này, thiên tử Rohitassa hỏi Đức Phật: "Tại chỗ nào Bạch Thế Tôn, không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), chúng con có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới không?" Và Đức Phật đã trả lời dứt khoát là không thể được. Rohitassa tán thán câu trả lời của Đức Phật, khen rằng thật là vi diệu vì chính thiên tử Rohitassa, bước đi với tốc độ nhanh như tên bắn chớp nhoán, với bước chân từ biển Đông qua biển Tây, đi như vậy luôn 100 năm không có dừng nghỉ, cũng phải chết giữa đường, không có thể đạt được tận cùng thế giới. Nhưng rồi Đức Phật dạy, chúng ta không cần đi đâu xa, chính trên cái thân này của chúng ta, chúng ta có thể đạt đến chỗ tận cùng thế giới. "Này hiền giả, Ta tuyên rằng tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ đời này, không có khởi đời khác thời không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới. Nhưng này hiền giả, trong cái thân dài độ mấy tấc này (byàmamatta) với những tưởng, những tư duy của nó, Ta tuyên bố về thế giới tập khởi, về thế giới đoạn diệt, về con đường đưa đến thế giới đoạn diệt".
Và với bài kệ sau đây, Đức Phật tóm tắc lời dạy của Ngài:
"Với đi, không bao giờ
Đạt tận cùng thế giới
Nếu không, không đạt được
Chỗ tận cùng thế giới
Thời không có giải thoát
Ra ngoài khỏi khổ đau.
Do vậy, bậc có trí,
Hiểu biết rõ thế giới,
Đi tận cùng thế giới,
Với Phạm hạnh thành tựu,
Bậc đạt được an tịnh
Biết tận cùng thế giới;
Không mong cầu đời này,
Không mong cầu đời sau."
Vì vai trò quan trọng của cái thân của chúng ta, nên Đức Phật đã dạy phải trừ thân kiến (sakkàyaditthi) giới cấm thủ và nghi mới có thể chứng được quả Dự Lưu từ bỏ địa vị phàm phu, bước vào địa vị hiền thánh. Do vậy, đôi khi Đức Phật cũng rống tiếng rống của con sư tử về cái thân năm uẩn của chúng ta, một tiếng rống làm chư Thiên khiếp sợ vì tưởng rằng thân của chư Thiên là thường còn, như kinh Con sư tử số 33 đã ghi nhận:
"Cũng vậy này các tỷ kheo, Như Lai ...thuyết pháp: "Đây là thân năm uẩn (sakkàya), đây là thân năm uẩn tập khởi, đây là thân năm uẩn đoạn diệt; đây là con đường đưa đến thân năm uẩn đoạn diệt. Này các tỷ kheo, có những chư Thiên nào, tuổi thọ dài, có dung sắc, hưởng lạc nhiều, đã sống lâu trong các lâu đài to lớn. Chư Thiên này, sau khi nghe Như Lai thuyết pháp, phần lớn chúng trở thành sợ hãi, run sợ, khiếp đảm. Chúng nghĩ: "Chúng ta là vô thường, này chư tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường còn. Chúng ta là không thường hằng, này chư tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường hằng. Chúng ta không thường trú, này chư tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường trú. Này chư tôn giả, chúng ta là vô thường, không thường hằng, không thường trú, bị thâu nhiếp trong một thân này."
Với Đức Phật tự mình đã giác ngộ, khi Ngài mới thành chánh giác, Ngài khởi lên một tư tưởng rất khiêm tốn: "Thật là khó khăn, sống không cung kính, không vâng lời. Vậy Ta hãy cung kính, đãnh lễ và sống y chỉ vào một Sa môn hay Bà-la-môn..." Với mục đích làm cho đầy đủ giới uẩn chưa đầy đủ, làm cho đầy đủ định uẩn chưa đầy đủ... Làm cho đầy đủ tuệ uẩn chưa đầy đủ... Làm cho đầy đủ giải thoát uẩn chưa đầy đủ. Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ vào một Sa môn hay Bà-la-môn nào khác." Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác Ma và Phạm Thiên, giữa quần chúng Sa môn và Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, không có một Sa môn hay Bà-la-môn nào khác, với giới ..., với định ..., với tuệ ... với giải thoát đầy đủ hơn Ta mà ta có thể cung kính đảnh lễ và sống y chỉ." Rồi này các tỷ kheo, Ta suy nghĩ như sau: "Với Pháp này mà Ta đã chơn chánh giác ngộ, Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ pháp ấy." Như vậy Đức Phật với tâm tư khiêm tốn muốn tìm một Sa môn hay Bà-la-môn để nương tựa y chỉ, nhưng cuối cùng phải nương tựa y chỉ vào Chánh Pháp. Thái độ này của Đức Phật giải thích vì sao Đức Phật khuyên tôn giả Ananda chớ có sầu muộn sau khi Đức Phật nhập diệt, vì các đệ tử Phật luôn luôn có chánh pháp lãnh đạo, có chánh pháp làm chỗ y chỉ, có chánh pháp làm chỗ nương tựa. Đức Phật có thể xem là vị giáo chủ khuyên chúng ta không nên nương tựa, ỷ lại cá nhân, Ngài chỉ khuyên chúng ta nên y chỉ vào chánh pháp, nên nương tựa chánh pháp. Và như vậy chúng ta thật không lấy làm lạ khi Đức Phật được tôn xưng là bậc tối thượng trong thế giới các loài hữu tình như kinh các lòng tin số 34 đã xác định. Dầu cho loài hữu tình nào, này các tỷ kheo, không chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng, Thế Tôn bậc A-la-hán chánh đẳng giác được xem là tối thượng. Những ai đặt lòng tin vào Đức Phật, chúng đặt lòng tin vào tối thượng với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, chúng được quả Dị thục tối thượng.
Do Ngài chiếm một địa vị tối thượng trong thế giới các loài hữu tình, do sự chứng ngộ, giải thoát của Ngài là thiết thực, hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, nên Ngài sống ở đời, đạt được bốn sự không sợ hãi, như kinh Vô sở úy số 8 đã trình bày. Ngài tuyên bố: "Có bốn không sợ hãi này của Như Lai, này các tỷ kheo, do thành tựu bốn không sợ hãi này, Như Lai tự nhận cho mình Địa ngưu vương, rống tiếng rống con sư tử trong các hội chúng và chuyển Pháp Luân".
Ngài thấy rằng, không một ai có thể chỉ trích Ngài là chưa giác ngộ một cách hoàn toàn, là chưa đoạn tận các lậu hoặc một cách hoàn toàn, là các pháp Ngài thuyết là chướng đạo pháp nhưng thật sự không có gì chướng ngại, và mục đích về pháp Ngài tuyên bố là không thiết thực đưa người thực hành đoạn tận được khổ đau. Trái lại, Ngài đã thực sự giác ngộ hoàn toàn, đã thực sự đoạn tận dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu; các chướng đạo pháp mà Ngài tuyên bố thật sự làm trở ngại cho người hành trì trên con đường tu đạo; mục đích Ngài thuyết giảng và các phương pháp hành trì do Ngài giới thiệu đã thực sự giúp cho hàng vạn, hàng triệu người được giải thoát giác ngộ. Do vậy, Ngài ung dung tự tại đi vào mọi hội chúng, không một chút sợ hãi rụt rè, vì không có một ai có thể chất vấn, cật nạn Ngài được. Ngài đã chứng được bốn không sợ hãi của những bậc thật sự giác ngộ.
Với vị trí vô thượng của Ngài, với sự giác ngộ tuyệt vời của Ngài, với bốn không sợ hãi của Ngài, cho nên Ngài đã thành tựu bốn pháp vi diệu chưa từng có, như đã được diễn tả trong kinh Vi diệu số 128.
"Này các tỷ kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán chánh đẳng giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu, chưa từng có này xuất hiện."
"Này các tỷ kheo, quần chúng ưa thích chấp giữ, thích thú chấp giữ, hoan hỷ chấp giữ. Khi pháp không chấp giữ được Như Lai thuyết giảng, chúng khéo nghe, lắng tai, an trú tâm với chánh trí..."
"Này các tỷ kheo, quần chúng ưa thích kiêu mạn, thích thú kiêu mạn, hoan hỷ kiêu mạn. Khi pháp không kiêu mạn được Như Lai thuyết giảng, chúng khéo nghe, lắng tai, an trú tâm với chánh trí..."
"Này các tỷ kheo, quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỷ không an tịnh. Khi pháp an tịnh được Như Lai thuyết giảng, chúng khéo nghe, lắng tai, an trú tâm với chánh trí..."
"Này các tỷ kheo, quần chúng đi đến vô minh, trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy. Khi Như Lai thuyết pháp nhiếp phục vô minh, chúng khéo nghe, lắng tai, an trú tâm với chánh trí..."
"Này các tỷ kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán chánh đẳng giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện." Đây thật sự là ảnh hưởng vi diệu của chánh pháp. Chúng ta chưa nghe chánh pháp thì thôi, nhưng đã nghe được chánh pháp thời tâm tư chúng ta dần dần biến đổi, bản tánh ưa thích chấp giữ được nhẹ dần tánh chấp giữ, bản tánh kiêu mạn chúng ta vơi bớt kiêu căng ngạo mạn, bản tánh giao động của chúng ta trở thành an tịnh lắng dịu và bản tánh vô minh vô trí được trở thành sáng suốt, giác ngộ. Khả năng cảm hóa của chánh pháp thật sự là hy hữu vi diệu. Khả năng cảm hóa của Đức Phật thật sự là hy hữu vi diệu."
*
Nay chúng ta bước qua một lãnh vực khác, lãnh vực các đề tài Đức Phật đã thuyết giảng, một mặt chúng ta thấy rõ được sự sai khác như trời vực giữa lời dạy của Sa môn, Bà-la-môn ngoại đạo và lời dạy của Đức Phật. Một mặt chúng ta càng nhận chân một cách thấu triệt sâu sắc những pháp môn giải thoát giác ngộ, chính Đức Phật tự mình hành trì kinh nghiệm trên bản thân, những pháp môn ấy không những là siêu việt xuất chúng với tánh chất độc đáo của chúng, chính chúng đã mở rộng tầm mắt nhìn thấy của chúng ta và giới thiệu cho chúng ta những pháp môn thật sự giác ngộ và giải thoát.
Trong một câu chuyện giữa các du sĩ ngoại đạo với Đức Phật như được ghi chép trong kinh Các sự thật Bà-la-môn số 185, khi được nghe các du sĩ bàn luận về các sự thật Bà-la-môn, Đức Phật đã đóng góp ý kiến của Ngài về vấn đề này, và những sự thật Ngài đóng góp thật sự là những nguyên tắc, những nguyên lý để hiểu biết để thực hành, để sống trọn vẹn:
"Ở đây, này các du sĩ, Bà-la-môn nào nói như sau: "Không được làm hại các loài hữu tình", người Bà-la-môn nào nói như vậy là nói sự thật, không nói láo. Do vậy, vị ấy không nghĩ đến "Sa môn", không nghĩ đến Bà-la-môn, không nghĩ đến: "Ta hơn các người khác", không nghĩ đến "Ta bằng các người khác", không nghĩ đến: "Ta là hạ liệt". Lại nữa, do thắng trí sự thật hàm chứa ở đây, người ấy thực hành lòng thương tưởng, lòng từ mẫn đối với các loài hữu tình.
"Lại nữa này các du sĩ, Bà-la-môn nói như sau: "Mọi dục là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại..." Người Bà-la-môn nói như vậy là nói sự thật, không nói láo. Do vậy, vị ấy không nghĩ đến "Sa môn", không nghĩ đến "Bà-la-môn", không nghĩ đến "Ta hơn các người khác", không nghĩ đến "Ta bằng các người khác", không nghĩ đến "Ta là hạ liệt". Lại nữa do thắng tri sự thật hàm chứa ở đây, người ấy thực hành nhằm chán, ly tham, đoạn diệt đối với các dục".
"Lại nữa, này các du sĩ, người Bà-la-môn nào nói như sau: "Tất cả hữu là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại". Người Bà-la-môn nói như vậy là nói sự thật, không nói láo. Do vậy, vị ấy không nghĩ đến: "Sa môn", không nghĩ đến "Bà-la-môn", không nghĩ đến: "Ta hơn các người khác", không nghĩ đến: "Ta bằng các người khác", không nghĩ đến: "Ta là hạ liệt". Lại nữa, do thắng tri sự thật hàm chứa ở đấy, người ấy thực hiện nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với các hữu.
"Lại nữa, này các du sĩ, người Bà-la-môn nói như sau: "Ta không là bất cứ ai, bất cứ thuộc ai, bất cứ là gì. Trong ấy không có cái gì được gọi ta là của Ta, bất cứ ở đâu, bất cứ là gì? "Người Bà-la-môn nói như vậy là nói sự thật, không nói láo. Do vậy, vị ấy không nghĩ đến "Sa môn", không nghĩ đến "Bà-la-môn", không nghĩ đến: "Ta hơn các người khác", không nghĩ đến: "Ta bằng các người khác", không nghĩ đến "Ta là hạ liệt". Lại nữa, do thắng tri sự thật hàm chứa ở đây, người ấy thực hành con đường không có sự vật gì".
Trước hết bốn sự thật do Đức Phật tuyên bố này, cho chúng ta một cái nhìn thiết thực, chính xác về cuộc đời và dạy cho chúng ta những hành động phù hợp: "Chúng ta không được làm hại các loài hữu tình; chúng ta phải hiểu các dục, các hữu là vô thường; chúng ta nên loại trừ các sở hữu. Với những cái nhìn, với những hành động chính xác phù hợp với các sự thật ấy, chúng ta sẽ không còn tự cao tự đại, tự ty mặt cảm, không còn phân biệt giữa mình và người. Và nhờ có một nhận thức thiết thực về bốn sự thật này, chúng ta mới phát khởi lòng từ bi đối với các loài hữu tình, thực hành sự nhàm chán ly tham đối với các dục, các hữu, và thực hành con đường không có sự vật gì."
Cuộc đối thoại kế tiếp là giữa Bà-la-môn Vassakàre với Đức Phật về vấn đề Đại Tuệ (kinh Vassakàre số 35). Theo Vassakàre, một người thành tựu bốn pháp được xem là bậc Đại Tuệ, là bậc Đại Nhân. Tức là nghe nhiều, biết ý nghĩa những điều đã được nghe. Có chánh niệm, nhớ đến điều đã làm, đã nói từ lâu. Trong các công việc của gia chủ, có thiện xảo không thụ động. Thành tựu với sự quán sát về phương tiện vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức. Đầy đủ bốn đức tánh như vậy, Bà-la-môn Vassakàre xem vị ấy là bậc Đại Tuệ, là bậc Đại Nhân. Nhưng Đức Phật trình bày bốn pháp, tác thành bậc Đại Tuệ, bậc Đại Nhân rất là sai khác.
Theo Đức Phật, "Người nào hướng đến hạnh phúc cho nhiều người, hướng đến an lạc cho nhiều người. Với người này, nhiều người được an lập trên thánh lý, tức là hiền thiện pháp tánh, thiện pháp tánh. Với tâm tư nào vị ấy nghĩ cần phải tầm tư, vị ấy tầm tư tầm tư ấy. Với tư duy nào vị ấy nghĩ cần phải tư duy, vị ấy tư duy tư duy ấy. Như vậy vị ấy đạt được tâm tự tại trong các đường hướng tầm tư. Đối với bốn thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, vị ấy đạt được không khó khăn, đạt được không mệt nhọc, đạt được không phí sức. Do đoạn diệt các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú, vô lượng giải thoát." Đức Phật không bài xích, không tùy hỷ quan điểm của Vassakàre, Ngài chỉ trình bày quan điểm của mình, nhưng sau khi Vassakàre gạn hỏi như muốn thách thức, Đức Phật đã trả lời cho Vassakàre rõ là bốn pháp tánh thành bậc Đại Tuệ này, chính Đức Phật đã thành tựu một cách viên mãn trọn vẹn. Thật vậy, Đức Phật là vị đã đem lại hạnh phúc an lạc cho rất nhiều chúng sanh, đã an trú các chúng sanh trên thiện pháp, đã giúp đỡ chúng sanh thực hành các điều lành về thân, về lời, về ý. Đức Phật là vị đã hoàn toàn tự tại trong đường hướng tầm tư, suy tư những gì cần phải suy tư, không suy tư những gì không cần phải suy tư, tự tại trong những suy tư, tư tưởng của mình; đã chứng được bốn thiền một cách ung dung tự tại và đã đoạn trừ các lậu hoặc, chứng được vô lậu tâm giải thoát tuệ giải thoát. Ngài nói đến bốn pháp tác thành bậc Đại Tuệ, những pháp chính Ngài đã thực hành trọn vẹn. Và để kết luận, Đức Phật đã nói lên bài kệ:
"Ai trong mọi chúng sanh
Hiểu rõ được giải thoát,
Khỏi cạm bẫy thần chết.
Vì hạnh phúc nhân thiên;
Tuyên bố về chánh lý,
Tuyên bố về chánh pháp.
Quần chúng thấy nghe vậy,
Liền hoan hỷ tịnh tín.
Thiện xảo, đạo phi đạo,
Việc nên làm đã làm,
Võ lậu bậc giác ngộ
Với thân này thân cuối,
Ngài được gọi tôn xưng
Bậc Đại Tuệ, Đại Nhân".
Tiếp đến là một cuộc đàm luận nữa giữa Bà-la-môn Jànussoni với Đức Phật, vị này đến Đức Phật và tuyên bố ngay rằng: "Thưa Tôn giả Gotama, con nói như sau, thấy như sau: "Không có một ai bản tánh bị chết mà không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến cái chết." (Kinh Không sợ hãi, số 184).
Đức Phật với kinh nghiệm của Ngài, tuyên bố rằng có hai hạng người, có hạng người bản tính bị chết, sợ hãi run sợ khi nghĩ đến cái chết, nhưng có người bản tính bị chết, nhưng không sợ hãi, không run sợ khi nghĩ đến cái chết. Và bốn hạng người sau đây, khi chết đến cảm thấy sợ hãi hoảng sợ: "Những ai không ly tham đới với các dục, những ai không ly tham đối với cái thân không ly tham muốn, không ly tham ái, không ly khát ai, không ly nhiệt não, không ly tham ái. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy, suy nghĩ như sau: "Thực sự các dục khả ái sẽ từ bỏ Ta, hay Ta từ bỏ những dục khả ái... Thật sự thân khả ái, sẽ từ bỏ Ta, hay Ta từ bỏ thân khả ái. "Nó sầu muộn than van, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh." Như vậy, hai hạng người này, hạng người chưa ly tham đối với các dục...chưa ly tham đối với thân, hai hạng người này, bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết."
"Lại nữa hạng người không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy cảm thọ chứng bệnh nặng ấy, suy nghĩ như sau: "Thật sự Ta không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp.
Tại sanh thú nào, các người không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở cho kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp đi đến, sau khi chết, Ta đi đến sanh thú ấy. "Người ấy sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn đây là người bản tánh bị chết sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết."
- "Lại nữa này Bà-la-môn, ở đây có hạng người nghi ngờ, do dự, không đi đến kết luận đối với diệu pháp. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy cảm thọ bệnh nặng trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: "Thật sự Ta có nghi ngờ do dự, không đi đến kết luận đối với diệu pháp. "Người ấy sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là bốn hạng người, bản tánh bị chết sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến cái chết."
Trái lại bốn hạng người sau đây, tuy bản tánh bị chết, nhưng không sợ hãi, không run sợ khi nghĩ đến cái chết:
"Ở đây, này Bà-la-môn, có hạng người ly tham đối với các dục...ly tham đới với thân, ly ham muốn, ly luyến ái, ly khát ái, ly nhiệt não, ly tham ái. Rồi một chứng trầm trọng khởi lên cho người ấy cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy suy nghĩ như sau: "Thật sự các dục khả ái sẽ từ bỏ Ta, hay "Ta sẽ từ bỏ các dục khả ái ... Thật sự thân khả ái sẽ từ bỏ Ta", hay "Ta sẽ từ bỏ thân khả ái này." Người ấy không sầu muộn, không than van, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. "Này Bà-la-môn, đây là hạng người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết."
"Lại nữa này Bà-la-môn, ở đây có hạng người không làm ác, không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp, làm điều lành, làm điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: "Thật sự Ta không làm ác, không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp; làm điều lành, làm điều thiện, có che chở cho kẻ sợ hãi. Tại sanh thú nào, các người không làm các điều ác, không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp, làm điều thiện, làm điều lành, có che chở cho kẻ sợ hãi đi đến. Sau khi Ta chết, Ta đi đến sanh thú ấy. Người ấy không sầu muộn, không than van, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là hạng người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không run sợ khi nghĩ đến chết."
"Lại nữa này Bà-la-môn, ở đây có hạng người không có nghi ngờ, không có do dự, đi đến kết luận đối với diệu pháp. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy suy nghĩ như sau: "Thật sự Ta không có nghi ngờ, không có do dự, đi đến kết luận đối với diệu pháp! Người ấy không có sầu muộn, không có than van, không có khóc lóc, không có đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là hạng người bản tánh bị chết không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến cái chết."
Có những vấn đề xem thật là tầm thường, nghĩa là nói lên những điều mình đã nghe, đã thấy, nhưng câu trả lời của Đức Phật bao giờ cũng diễn đạt trí tuệ sâu sắc của Ngài, rất khác với câu trả lời của Vassakàra (Kinh Điều đã được nghe số 183). Bà-la-môn Vassakàra thưa với Đức Phật: "Thưa Tôn giả Gotama con nói như sau, thấy như sau: "Khi người nào nói lên điều mình thấy: "Ta thấy như vậy", do vậy người ấy không có lỗi gì. Khi người nào nói lên điều mình nghe: "Tôi nghe như vậy." Do vậy người ấy không có lỗi gì. Khi người nào nói lên điều mình cảm giác; "Tôi cảm giác như vậy." Do vậy người ấy không có lỗi gì. Khi người nào nói lên điều mình thức tri: "Tôi thức tri như vậy." Do vậy người ấy không có lỗi gì. "Câu trả lời của Đức Phật rất là đặc biệt. Ngài tuyên bố, Ngài không nói rằng tất cả được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri là nên nói ra hay không nói ra. "Nhưng này Bà-la-môn, phàm nói lên điều thấy gì...điều nghe gì...điều cảm gì... điều thức tri gì, các pháp bất thiện tăng trưởng, pháp thiện tổn giảm, Ta nói rằng điều thấy như vậy...điều nghe như vậy...điều cảm giác như vậy... điều thức tri như vậy... điều nghe như vậy...điều cảm giác như vậy...điều thức tri như vậy không nên nói ra. Và này Bà-la-môn, phàm nói ra điều gì, thấy gì...điều nghe gì...điều cảm giác gì...điều thức tri gì...các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng điều thấy như vậy...điều nghe như vậy...điều cảm giác như vậy...điều thức tri như vậy...điều thức tri như vậy nên nói ra!"
Như vậy Đức Phật khuyên chúng ta chỉ nên nói lên những gì khiến thiện pháp tăng trưởng, khiến bất thiện pháp tổn giảm, và dứt khoát không nên nói lên những gì khiến thiện pháp tổn giảm, khiến bất thiện pháp tăng trưởng.
*
Trong thời Đức Phật tại thế, khi Ngài mới thành chánh đẳng chánh giác, Ngài bị một số Bà-la-môn trưởng lão chất vấn Ngài như sau: "Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi được nghe như sau: "Sa môn Gotama không có kính lễ, không có đứng dậy, không có lấy nghế mời ngồi các bậc trưởng thượng đã đi quá nửa cuộc đời, đã đạt đến cuối mức tuổi đời. Thưa Tôn giả Gotama, có phải sự tình là như vậy không? Nếu Tôn giả Gotama không có kính lễ, không có đứng dậy, không có lấy ghế mời ngồi các bậc Bà-la-môn già cả, trưởng lão , các bậc trưởng thượng, đã đi quá nửa cuộc đời, đã đạt cuối mức tuổi đời, sự tình như vậy, thưa Tôn giả Gotama là không được tốt đẹp." Câu trả lời của Đức Phật cho các trưởng lão Bà-la-môn nêu rõ quan điểm về trưởng lão và về thanh niên của Đức Phật. Ngài nói: "Này các tỷ kheo nếu trưởng lão là 80 tuổi hay 90 tuổi, hay 100 tuổi đời, và nếu vị ấy nói phi thời, nói phi chân, nói phi nghĩa, nói phi pháp, nói phi luật, nói những lời không đáng gìn giữ, lời nói không hợp thời, không hợp lý, không có giới hạn, không liên hệ đến mục đích, thời vị ấy chỉ được gọi là vị trưởng lão ngu si. Nếu là một vị tuổi trẻ, này các tỷ kheo, một thanh niên còn non trẻ, tóc đen nhánh, trong tuổi hiền thiện của đời, còn trong tuổi thanh xuân, và vị ấy nói đúng thời, nói lời chân thật, nói lời có nghĩa, nói lời đúng pháp, nói lời đúng luật, nói lời đáng được gìn giữ, nói lời hợp thời cơ, hợp lý, có giới hạn, liên hệ đến mục đích, thời vị ấy được gọi là trưởng lão hiền trí."
Rồi Đức Phật nói lên bốn pháp tác thành trưởng lão (xem Tăng Chi II, kinh số 22):
- "Ở đây này các tỷ kheo, vị tỷ kheo có giới, sống chế ngự với sự chế ngự các giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Là vị nghe nhiều, thọ trì điều đã được nghe, tích tụ điều đã nghe; những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Các pháp như vậy, vị ấy nghe nhiều, thọ trì đọc tụng bằng lời, quán sát với ý, thể nhập với chánh kiến. Đối với bốn thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú đạt được không khó khăn, đạt được không mệt nhọc, đạt được không phí sức. Do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ chứng đạt và an trụ vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các tỷ kheo, bốn pháp này tác thành vị trưởng lão:
"Ai với tâm cống cao
Nói nhiều lời phù phiếm
Với tư duy không định
Như thú không ưa pháp,
Xa địa vị trưởng lão,
Ác kiến, thiếu kính trọng.
Và ai đủ giới hạnh,
Nghe nhiều, trí biện tài,
Sống chế ngự bậc trí,
Đối với tất cả pháp.
Vị ấy với trí tuệ,
Quán thấy chơn ý nghĩa.
Đạt cứu cánh các pháp,
Không hoang vu, biện tài.
Đoạn tận sanh và chết,
Viên mãn, hành Phạm hạnh,
Vị ấy Ta gọi tên,
Trưởng lão, không lậu hoặc
Do đoạn trừ lậu hoặc
Được gọi là Trưởng Lão."
*
Trong đời Đức Phật, Ngài cũng bị nhiều hiểu lầm và xuyên tạc. Chúng ta thấy trong kinh trước, Đức Phật đã bị xuyên tạc không có kính lễ các bậc trưởng thượng và Đức Phật đã giải thích quan điểm của mình đối với vấn đề trưởng lão và thanh niên. Trong bài kinh Bhaddiya số 193, Đức Phật lại bị xuyên tạc và bị huyễn thuật sư đã dùng huyễn thuật lôi cuốn đệ tử các ngoại đạo. Licchavi Bhaddiya đến yết kiến Đức Phật và hỏi: "Bạch Thế Tôn, những ai nói như sau: "Sa môn Gotama là huyễn thuật sư, biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo. Những người ấy Bạch Thế Tôn, có phải nói đúng ý kiến của Thế Tôn, không có xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật. Có phải chúng trả lời về pháp hợp với chánh pháp. Và ai là vị đồng pháp, theo một quan điểm, không có lý do để chỉ trích Bạch Thế Tôn, chúng con không muốn xuyên tạc Thế Tôn."
Đức Phật liền khuyên Licchavi Bhaddiya chớ có tin mười điều: "Này Bhaddiya, chớ có tin vì nghe báo cáo; chớ có tin vì nghe truyền thống; chớ có tin vì nghe tin đồn; chớ có tin vì được kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt các dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất nơi uy quyền; chớ có tin vì vị Sa môn là bậc Đạo sư của mình."
Rồi Đức Phật khuyên: "Bhaddiya khi nào biết được các pháp này là bất thiện, là có tội, bị người có trí chỉ trích, nếu thực hiện và chấp nhận, đưa đến bất hạnh lâu dài, thời hãy từ bỏ các pháp ấy. Muốn biết các pháp ấy là bất thiện, cần nhận xét các pháp ấy có liên hệ đến tham, sân, si, hung bạo, thời các pháp ấy đem lại bất hạnh và cần phải từ bỏ. Rồi Đức Phật cũng dùng phương pháp tương tự, khuyên không nên dựa vào mười lòng tin như trên, cần phải tự mình biết các pháp ấy là thiện, là không có tội, được người trí tán thán, và nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc thời hãy an trú và thực hiện các pháp ấy. Tiêu chuẩn để biết các pháp ấy là thiện pháp là liên hệ đến không tham, không sân, không si, không hung bạo, làm các thiện pháp như không sát sanh, không trộm cướp, không đi lại vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. "Rồi Đức Phật đi đến kết luận: "Này Bhaddiya, tất cả các bậc chân nhân tịch tịnh ở đời khích lệ đệ tử như sau: "Hãy đến này các đệ tử. Hãy nhiếp phục tham! Hãy sống nhiếp phục tham! Do sống nhiếp phục tham, ngươi sẽ không làm nghiệp do tham sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục sân! Hãy sống nhiếp phục sân! Do sống nhiếp phục sân, ngươi sẽ không làm nghiệp do sân sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục si! Hãy sống nhiếp phục si! Do sống nhiếp phục si, ngươi sẽ không làm nghiệp do si sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục hung bạo! Hãy sống nhiếp phục hung bạo! Do sống nhiếp phục hung bạo, ngươi sẽ không làm nghiệp do hung bạo sanh, về thân, về lời, về ý."
Khi nghe Đức Phật giảng đến đây, Licchavi Bhaddiya liền xin quy y ba Ngôi Báu để trở thành đệ tử Đức Phật. Nhưng Đức Phật hỏi, trong suốt bài thuyết pháp của Đức Phật, có bao giờ Đức Phật khuyên Licchavi Bhaddiya trở thành đệ tử của Đức Phật hay không và Đức Phật sẽ trở thành vị đạo sư cho Bhaddiya hay không? Bhaddiya trả lời là không bao giờ Đức Phật có nói như vậy. Bậc Đạo sư đến đây mới kết luận: "Như vậy, này Bhaddiya, những Sa môn, Bà-la-môn nào nói như sau, tuyên bố như sau: "Là một huyễn thuật sư, Sa môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo! "Những vị ấy là không thiện, trống không, nói láo, xuyên tạc với điều không thật!"
Khi nghe Đức Phật kết luận như vậy, Bhaddiya nói lên lời tán thán là huyễn thuật dụ dỗ này của Sa môn Gotama thật là hiền thiện và mong rằng tất cả bà con huyết thống của mình và tất cả những người Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ Xá và Thủ Đà đều được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, vì những sự cám dỗ này, mọi người mọi loài sẽ đoạn tận các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp và như vậy được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài!
*
Thực sự mà nói, Đức Phật không có cám dỗ ai, Ngài không có dụng tâm thâu phục đệ tử của ai. Ngài cũng không khuyên ai nhắm mắt tin Ngài. Ngài chỉ trình bày những tiêu chuẩn cho mọi người tự mình tìm hiểu thế nào là bất thiện để đoạn tận, thế nào là thiện pháp mới đem lại hạnh phúc an lạc cho mọi người.
Trong kinh Xa xăm số 47, Đức Phật nêu rõ khoảng cách biệt xa vời giữa pháp của hạng người bất thiện và pháp của hạng người thiện:
"Này các tỷ kheo, có bốn sự này, rất xa, rất xa với nhau. Trời và đất này các tỷ kheo là rất xa, rất xa với nhau ...Bờ biển bên này, này các tỷ kheo, với bờ biển bên kia là rất xa, rất xa với nhau. Từ chỗ mặt trời mọc lên, này các tỷ kheo, đến chỗ mặt trời lặng xuống, là rất xa với nhau... Pháp của hạng người bất thiện, này các tỷ kheo, với các pháp của hạng người thiện, là rất xa, rất xa với nhau..." và Đức Phật kết thúc bài kệ:
"Rất xa là bầu trời,
Cũng rất xa quả đất,
Người ta nói rất xa
Là bờ biển bên kia
Từ chỗ mặt trời mọc,
Chói sáng tỏa ánh sáng,
Đến chỗ mặt trời lặn,
Rằng xa thật là xa.
Người ta nói xa hơn,
Là pháp của bậc Thiện,
Với pháp kẻ bất thiện
Thật xa, xa hơn nhiều.
Hòa hợp với bậc Thiện,
Thường hằng không hoại diệt.
Khi nào còn đứng vững
Vẫn như vậy kiên trì.
Còn hòa hợp bất thiện,
Rất mau bị phá hoại,
Do vậy pháp bất Thiện,
Xa vời pháp kẻ ác."
Trong kinh Upaka số 188, Đức Phật tuyên bố rất rõ ràng là các bậc Như Lai, với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp, chỉ với mục đích nêu rõ các pháp bất thiện để đoạn tận, và các pháp thiện để tu tập:
- "Này Upaka, đây là bất thiện. Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Như Lai: "Đây là bất thiện. Này Upaka, bất thiện này cần phải đoạn tận. Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Như Lai: "Đây là pháp bất thiện này cần phải đoạn tận." "Đây là thiện", Này Upaka, ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng thuyết pháp của Như Lai: "Đây là pháp thiện! Thiện pháp này cần phải tu tập, này Upaka, Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Như lai. Đây là thiện này cần phải tu tập."
Đã nói đến thiện và bất thiện, Đức Phật trình bày tiếp về nghiệp thiện bất thiện, và trong kinh các nghiệp với chi tiết, số 232, Đức Phật phân tích có bốn loại nghiệp: Nghiệp đen quả đen, nghiệp trắng quả trắng, nghiệp đen trắng quả đen trắng, nghiệp không đen trắng quả không đen trắng, nghiệp đưa đến nghiệp đoạn diệt.
"Và này các tỷ kheo, thế nào là nghiệp đen quả đen? Ở đây này các tỷ kheo, có người làm thân hành có tổn hại, làm khẩu hành có tổn hại, làm ý hành có tổn hại. Người ấy, do làm thân hành có tổn hại...do làm khẩu hành... do làm ý hành có tổn hại, sanh ở thế giới có tổn hại. Do người ấy sanh ra ở thế giới có tổn hại, các cảm xúc có tổn hại được cảm xúc. Người ấy, được cảm xúc với những cảm xúc có tổn hại, nên cảm xúc những cảm thọ có tổn hại, thuần nhất khổ, như những chúng sanh trong địa ngục. Này các tỷ kheo, đây là nghiệp đen quả đen."
"Và này các tỷ kheo, thế nào là nghiệp trắng quả trắng? Ở đây, này các tỷ kheo, có người làm thân hành không có tổn hại, làm khẩu hành không có tổn hại, làm ý hành không có tổn hại. Người ấy, do làm thân hành không có tổn hại, do làm khẩu hành không có tổn hại, do làm ý hành không có tổn hại, sanh ra ở thế giới không có tổn hại. Do người ấy sanh ra ở thế giới không có tổn hại, các cảm xúc không có tổn hại được cảm xúc. Người ấy, được cảm xúc với những cảm xúc không có tổn hại, nên cảm thọ những cảm thọ không có tổn hại, thuần nhất lạc, như chư Thiên ở Biến tịnh thiên. Này các tỷ kheo, đây là nghiệp trắng quả trắng."
"Và này các tỷ kheo, thế nào là nghiệp đen trắng quả đen trắng? Ở đây, này các tỷ kheo, có người làm thân hành có tổn hại và không tổn hại; người ấy làm khẩu hành..., làm ý hành có tổn hại và không tổn hại. Người ấy do làm thân hành..., do làm khẩu hành..., do làm ý hành có tổn hại và không tổn hại nên sanh vào thế giới có tổn hại và không tổn hại, các cảm xúc có tổn hại và không tổn hại được cảm xúc. Người ấy được cảm xúc với những cảm xúc có tổn hại và không tổn hại, nên cảm thọ những cảm thọ có tổn hại và không tổn hại xen lẩn, pha trộn lạc và khổ. Ví như một số người và chư Thiên, một số chúng sanh ở đọa xứ. Này các tỷ kheo, đây gọi là nghiệp đen trắng và quả đen trắng."
"Và này các tỷ kheo, thế nào là nghiệp không đen trắng quả không đen trắng?
Tại đây, này các tỷ kheo, phàm có tư tâm sở nào để đoạn tận nghiệp đen quả đen này; phàm có tư tâm sở nào để đoạn tận nghiệp trắng quả trắng này; phàm có tư tâm sở nào để đoạn tận nghiệp đen trắng quả đen trắng này, này các tỷ kheo, đây được gọi là nghiệp không đen trắng quả không đen trắng, nghiệp đưa đến nghiệp đoạn diệt này. Này các tỷ kheo, có bốn nghiệp này đã được Ta chứng ngộ với thắng trí và thuyết giảng."
*
Với Đức Phật là vị đã giác ngộ, biết tâm tư tánh tình của các loài hữu tình, của loài người nên Ngài thường hay phân loại các chúng sanh, theo những xu hướng đặc biệt. Như kinh Thuận dòng số 5, Đức Phật đã phân loại có bốn hạng người tùy theo thuận hướng hay nghịch hướng trên con đường đưa đến giải thoát. "Có bốn hạng người này, này các tỷ kheo, hiện hữu có mặt ở đời... Hạng người đi thuận dòng, hạng người đi ngược dòng, hạng người tự đứng lại, và vị Bà-la-môn đã vượt qua đến bờ bên kia, đứng trên đất liền.
Và này các tỷ kheo, thế nào là hạng người đi thuận dòng? Ở đây, này các tỷ kheo, có người thọ hưởng các dục và làm ác nghiệp. Này các tỷ kheo, đây là hạng người đi thuận dòng. Và này các tỷ kheo, thế nào là hạng người đi ngược dòng? Ở đây, này các tỷ kheo, có hạng người không thọ hưởng các dục, không làm ác nghiệp. Với khổ với ưu, nước mắt đầy mặt, khóc than, sống phạm hạnh viên mãn thanh tịnh. Này các tỷ kheo, đây là hạng người đi ngược dòng. Và này các tỷ kheo, thế nào là hạng người tự đứng lại? Ở đây, này các tỷ kheo, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đây nhập Niết Bàn, không còn trở lui đời ấy nữa. Này các tỷ kheo, đây là hạng người tự đứng lại. Và này các tỷ kheo, thế nào là vị Bà-la-môn đã vượt qua đến bờ bên kia đứng trên đất liền? Ở đây, này các tỷ kheo, có hạng người do hoại diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các tỷ kheo, đây gọi là vị Bà-la-môn, đã vượt qua đến bờ bên kia, đứng trên đất liền. Bốn hạng người này, này các tỷ kheo, hiện hữu có mặt ở đời."
"Những ai sống ở đời
Không chế ngự các dục
Không từ bờ ly tham,
Thọ hưởng các dục vọng
Chúng đi đến sanh già,
Đến rồi lại đến nữa.
Bị khát ái trói buộc
Chúng đi thuận dòng đời.
"Do vậy, bậc có trí,
Ở đời, trú chánh niệm,
Không thọ hưởng các dục,
Không hành trì điều ác,
Dầu chịu sự khổ đau,
Từ bỏ các dục vọng,
Chúng được gọi hạng người
Đi ngược lại dòng đời.
"Nhưng ai quyết đoạn tận,
Năm phiền não kiết sử,
Bậc hữu học viên mãn,
Không có bị thối thất,
Đạt được tâm điều phục,
Các căn được định tỉnh.
Vị ấy được gọi là
Người đã tự đứng lại.
"Đối với pháp thắng liệt,
Vị ấy được giác tri
Đã được quét, quạt sạch,
Các pháp được chấm dứt
Vị ấy bậc trí giả,
Phạm hạnh được thành tựu,
Được tên gọi danh xưng
Bậc đã đi đến nơi
Chỗ tận cùng thế giới
Bậc đã đến bờ kia!"
Trong kinh Gậy Thúc Ngựa, số 113, Đức Phật đề cập đến bốn hạng người hiền thiện thuần thục, có những phản ứng đối với những đau khổ ở đời, và tùy theo mức độ mạnh yếu, nặng nhẹ khác nhau, có những giao động kích thích, tinh tấn, thắng trí được sự thật.
Trước hết, Đức Phật giới thiệu có bốn loại người đối với Gậy thúc ngựa. Có con vừa thấy bóng cậy gậy thúc ngựa đưa lên, liền biết ngay người cưỡi ngựa muốn sai bảo con ngựa phải làm gì, liền đáp ứng ngay ý muốn của người cưỡi ngựa. Có con phải đợi khi cây gậy thúc ngựa đâm vào da, có con phải đợi khi đâm vào thịt và có con phải đợi khi cây gậy thúc ngựa đâm vào xương mới đáp ứng ý muốn của người cưỡi ngựa. Cũng vậy, ở đời có bốn hạng người thiện, hạng thứ nhất vừa nghe tại một làng hay thị trấn kia có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay bị mạng chung, liền bị giao động kích thích, như lý tinh cần. Và nhờ tinh cần, vị ấy với trí tuệ chứng ngộ được tối thắng sự thật. Hạng thứ hai không có phản ứng tốt đẹp khi chỉ nghe có người đàn bà hay người đàn ông bị đau khổ hay mệnh chung, phải chợ khi tự mình chứng kiến mới có phản ứng tu hành tinh tấn. Hạng thứ ba không có phản ứng khi nghe hay tự mình thấy, chỉ có phản ứng khi có người bà con hay người đồng một huyết thống khổ đau hay mệnh chung. Còn hạng thứ tư không có phản ứng khi nghe tại một làng hay thị trấn kia có người đàn bà hay người đàn ông bị đau khổ hay mệnh chung, không có phản ứng khi tự mình thấy một người đàn bà hay người đàn ông khổ đau hay bị mệnh chung, không có phản ứng khi có người bà con hay người đồng một huyết thống khổ đau hay bị mệnh chung. Hạng người thứ tư này, chỉ khi tự mình cảm xúc những cảm thọ về thân khổ đau, nhói đau, chói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không khả hỷ, không khả ý, đoạt mạng sống, vị ấy mới bị giao động kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng. Với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập thấy được sự thật ấy. Ví như con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào xương mới bị giao động kích thích, và mới đáp ứng ý muốn của người cưỡi ngựa.
*
Thường thường chúng ta xem Đức Phật là bậc Đạo sư chỉ dạy những phương pháp tu hành siêu thế cho các vị xuất gia đã chọn lựa con đường thoát siêu trần. Thật sự mà nói, một số lớn kinh điển ghi nhận những lời dạy siêu trần thoát tục ấy. Nhưng như chúng ta đã thấy trong kinh Thế giới số 23 ghi rõ Đức Phật là vị đã hiểu biết thế giới nhưng không bị đời uế nhiễm. Vì Ngài đã hiểu biết thế giới, đã hiểu rõ tâm tư của chúng sanh, nên với sự giác ngộ, với trí tuệ sáng suốt của Ngài, Đức Phật đã chỉ dạy rất nhiều kinh điển, nói về bổn phận của người gia chủ trong gia đình. Trong Tăng Chi Bộ kinh Tập II quyển A có rất nhiều kinh điển đề cập đến vấn đề này, nhưng vì bài giảng quá dài và thời gian có hạn chúng tôi chỉ xin trích một kinh mà thôi, tức là kinh Bốn nghiệp công đức số 61.
Đức Phật nói với Anàthapindika (Cấp Cô Độc) có bốn pháp khả lạc, khả hỷ, khó được ở đời. Một là được tài sản đúng pháp, hai là được tiếng tốt đồn về mình cùng với bà con, ba là được sống lâu, thọ mạng được kéo dài và thứ tư là sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cỏi trời. Đây là bốn nguyện vọng thông thường của con người ở đời. Rồi Đức Phật dạy cho bốn phương pháp để đạt được bốn pháp khả lạc, khả hỷ trên, tức là đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ. Đầy đủ lòng tin là tin ở sự giác ngộ của Như Lai. Đầy đủ giới nghĩa là sống không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không uống rượu. Đầy đủ bố thí là sống ở gia đình, nhưng không bị gian tham chi phối, sẳn sàng bố thí sẳn sàng để được yêu cầu, vui thích san sẽ vật bố thí! Đầy đủ trí tuệ nghĩa là biết được tham ái sân hận, hôn trầm thụy miên, nghi hoặc là uế nhiễm của tâm, nên từ bỏ năm uế nhiễm ấy, như vậy được gọi là trí tuệ, có trí tuệ rộng lớn.
Rồi Đức Phật hướng dẫn người gia chủ tác thành bốn hành động, với tài sản thu hoạch được, do nổ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra, đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp. Với tài sản ấy người gia chủ chân chánh đem lại an lạc cho mình, đem lại an lạc cho cha mẹ, đem lại an lạc cho vợ con, cho các người phục vụ, cho người làm công, an lạc cho các bạn bè thân hữu. Như vậy là trường hợp thứ nhất. Người gia chủ đạt được sự hưởng thọ đúng pháp xứ.
Lại nữa, với tài sản ấy người gia chủ làm cho mình được an toàn chống lại những tai họa từ lửa đến, từ nước đến, từ vua đến, từ ăn trộm đến, từ các thừa tự thù nghịch đến. Như vậy là trường hợp thứ hai, người gia chủ đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ.
Lại nữa, với tài sản ấy người gia chủ tổ chức năm loại hiến cúng, hiến cúng cho bà con, hiến cúng cho khách, hiến cúng cho các vong linh quá khứ, hiến cúng cho vua, hiến cúng cho chư Thiên. Đây là trường hợp thứ ba. Người gia chủ đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ.
Lại nữa, với tài sản ấy người gia chủ đối với những vị Sa môn, Bà-la-môn sống từ bỏ kiêu mạn phóng dật, an trú trên nhẫn nhục, nhu hòa nhiếp phục tự mình, an lạc tự mình, làm lắng dịu tự mình, người gia chủ tổ chức sự cúng dường tối thượng thuộc về cỏi trời, đem đến quả lạc Dị Thục, đem đến Thiên giới. Đây là trường hợp thứ tư, người gia chủ đạt đến sự hưởng thọ tối thượng. Rồi Đức Phật kết luận: "Này gia chủ, nếu tài sản của ai, được tiêu dùng không đúng với bốn hành động này, những tài sản ấy được gọi là tài sản đi đến không lợi ích, đi đến không thành đạt, đạt được sự hưởng thọ không đúng phương xứ. Nếu những tài sản của ai, này gia chủ, được tiêu dùng với bốn hành động này, những tài sản ấy được gọi là những tài sản đi đến lợi ích, đi đến thành đạt, đạt được sự hưởng thụ đúng phương xứ. Rồi Đức Phật nói lên bài kệ:
"Tài sản ta thọ hưởng
Gia nhân được nuôi dưỡng
Chính nhờ các tài sản,
Do Ta tránh tai họa
Ta cúng dường tối thượng,
Làm năm loại hiến vật,
Hộ trì bậc trì giới,
Bậc tự điều, Phạm hạnh.
Mục đích gì bậc trí,
Trú nhà, cần tài sản,
Mục đích ấy Ta đạt
Được làm không hối hận,
Người nào nhớ nghĩ vậy,
An trú trên thánh pháp,
Đời này được tán thán,
Đời sau được hoan hỷ,
Trên cảnh giới chư Thiên."
Trong một kinh khác, kinh Sống chung số 53, Đức Phật dạy cho các người gia chủ có bốn loại sống chung: "Đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ, đê tiện nam sống chung với thiên nữ, thiên nam sống chung với đê tiện nữ, và thiên nam sống chung với thiên nữ.
Và Đức Phật định nghĩa cho chúng ta hiểu rõ thế nào là đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ. "Ở đây, này các gia chủ, người chồng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong dục vọng, nói láo, đắm say rượu men, rượu nấu, ác giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối.
Còn người vợ cũng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong dục vọng, nói láo, đắm say rượu men, rượu nấu, ác giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối.
"Và này các gia chủ, thế nào là đê tiện nam sống chung với thiên nữ?"
"Ở đây này gia chủ, người chồng sát sanh...mắng nhiếc chửi rủa các Sa môn, Bà-la-môn. Còn người vợ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu với tâm không bị cấu uế xan tham chi phối, không có nhiếc mắng chủi rủa các Sa môn, Bà-la-môn. Như vậy, này các gia chủ, là đê tiện nam sống chung với thiên nữ."
"Và này các gia chủ, thế nào là thiên nam sống chung với một đê tiện nữ?"
"Ở đây, này các gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh...không có nhiếc mắng chửi rủa các Sa môn, Bà-la-môn. Nhưng người vợ là người sát sanh, lấy của không cho...nhiếc mắng chửa rủa Sa môn, Bà-la-môn. Như vậy, này các gia chủ, là thiên nam sống chung với đê tiện nữ."
"Và này các gia chủ, thế nào là thiên nam sống chung với thiên nữ?"
"Ở đây, này các gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh...không nhiếc mắng chửi rủa các Sa môn, Bà-la-môn và người vợ cũng là người không sát sanh...không nhiếc mắng chửi rủa các Sa môn, Bà-la-môn."
"Này các gia chủ, có bốn loại chung sống này."
* * *
Kính thưa quý vị,
Vì thời giờ bị hạn chế, chúng tôi chỉ có thể trích dẫn một số Kinh trong Tương Chi Bộ Kinh tập II quyển A để giới thiệu phần nào nội dung của bộ Kinh này. Như chúng tôi đã thưa trước, tập II quyển A này chỉ đề cập đến bốn pháp mà thôi, nhưng nội dung thật quá phong phú, quá dồi dào, khiến chúng tôi rất khó lựa chọn cho được đầy đủ. Số kinh được đề cập là 27, nhưng Kinh nào cũng phản chiếu trí tuệ tuyệt vời của một bậc giác ngộ, kinh nào cũng để lại ấn tượng của Bậc Toàn Năng Toàn Trí, đã thật sự Chánh đẳng Chánh giác thế giới, thế giới tập khởi, thế giới đoạn diệt và con đường đưa đến thế giới đoạn diệt. Một điều kỳ diệu nữa trong lời dạy của Đức Phật là đối tượng thuyết pháp của Ngài không có xa lạ gì, chính là cái thân dài mấy trăm tầm này, cái thân gọi là năm uẩn, không phải cái thân thuộc 2525 năm về trước, mà chính là cái thân hiện tại của chúng ta, với sắc tướng như thế này, với cảm thụ như thế này, với tưởng tượng như thế này, với hành như thế này, với các thức như thế này. Chính trên cái thân có mấy tầm này, có tư tâm sở làm chủ yếu (cetanà). Với tư tâm sở, thân làm điều ác, miệng nói điều ác, ý nghĩ ác, thời cảnh giới địa ngục, súc sanh hiện ra. Nếu với tư tâm sở, thân tâm điều lành miệng nói lời lành, ý suy nghĩ lành, thời thế giới chư Thiên hiện ra ngay trong hiện tại. Với tư tâm sở ấy, nếu chúng ta sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, uống rượu men rượu nấu, chúng ta trở thành đê tiện nam, đê tiện nữ. Trái lại, chúng ta giữ trọn năm giới cấm, chúng ta trở thanh thiên nam thiên nữ. Cũng chính với cái thân mấy tầm này, chúng ta sống lành mạnh, chí thiện, hành trì bốn thiền, hiện tại lạc trú, hướng đến tâm giải thoát, tuệ giải thoát, thời chính cái thân này của chúng ta tỏa rộng ra giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương. Lời dạy của Đức Phật chỉ cho chúng ta rõ đâu là con đường ác cần phải từ bỏ, đâu là con đường thiện cần phải thực hành, đâu là giới định tuệ cần phải tu tập để hướng tiến trên con đường đạo. Với sự giải thoát và giác ngộ của Ngài, những lời dạy của Ngài bao giờ cũng thấm nhuần giải thoát và giác ngộ, cũng là những sức mạnh hướng dẫn đến giác ngộ giải thoát.
Viện Phật Học Vạn Hạnh chúng tôi với tâm niệm đề cao và phổ biến chánh pháp, luôn luôn cố gắng để phiên dịch Kinh Tạng Pàli, xuất bản và phát hành dịch tạng này trong các ngày lễ lớn, đặc biệt là ngày Phật Đản. Những Kinh tạng này được sưu tầm và phổ biến trước khi Đạo Phật chia thành Nam Tông và Bắc Tông, Đại Thừa và Tiểu Thừa, chứa đựng những lời dạy thực sự nguyên thủy, không rơi vào những chia ly của các học phái, những phát triển của Luận Tạng.
Chúng tôi có thể nói sự chia rẽ thành các học phái khác biệt như Thượng Tọa Bộ, Đại Chúng Bộ, Nhất Thiết Hữu Bộ v.v... Nam Tông, Bắc Tông v.v... bắt nguồn từ văn học Jàtaka (Bổn Sanh), văn học Luật Tạng (Vinaya) và văn học Luận Tạng (Abhidhamma). Do vậy Kinh Tạng (Pàli Suttanta) nay đã được thế giới học Phật xem là những giáo lý căn bản chung cho cả Đại Thừa và Tiểu Thừa. Phiên dịch KinhTạng Pàli và phổ biến rộng rãi Kinh Tạng này, vừa là sự đóng góp của chúng tôi để xây dựng một Đại Tạng Kinh Việt nam, vừa là một cử chỉ cúng dường của chúng tôi dâng lên Chánh Pháp nhân ngày Đại Lễ Phật Đản.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
[Nguồn: www.budsas.org]
Nghiên cứu - Tăng
(Xếp theo thứ tự thấp trước cao sau)
DỤC GIỚI (những người làm phước)
1. Tứ Thiên Vương: 1 ngày = 50 năm (cõi người - cn) / tuổi thọ trung bình 500 năm = 9.125.000 cn2. Đao Lợi (hay Cung Trời 33 hay Tam Thập Tam Thiên): 1 ngày = 100 năm (cn) / tuổi thọ trung bình 1000 năm = 36.000.000 năm cn
3. Dạ Ma: 1 ngày = 200 năm (cn) / tuổi thọ trung bình 2000 năm = 146.000.000 năm cn
4. Đâu suất: 1 ngày = 400 năm (cn) / tuổi thọ trung bình 4000 năm = 584.000.000 năm cn
5. Hoá Lạc: 1 ngày = 800 năm (cn) / tuổi thọ trung bình 8000 năm = 2.336.000.000 năm cn
6. Tha Hoá Tự Tại: 1 ngày = 1600 năm (cn) / tuổi thọ trung bình 16000 năm = 9.344.000.000 năm cn
SẮC GIỚI (những người tu thiền)
- Sơ Thiền1. Phạm Chúng Thiên: 1/3 a tăng kỳ kiếp
2. Phạm Phụ Thiên: 1/2 a tăng kỳ kiếp
3. Đại Phạm Thiên: 1 a tăng kỳ kiếp
- 1 a tăng kỳ kiếp = 10 mũ 140
Nhị Thiền
1. Thiều Quang Thiên: 2 đại a tăng kỳ
2. Vô Lượng Quang: 4 đại a tăng kỳ
3. Quang Âm Thiên: 8 đại a tăng kỳ
Tam Thiền
1. Thiểu Tịnh Thiên: 16 đại a tăng kỳ
2. Vô lượng Tịnh Thiên: 32 đại a tăng kỳ
3. Biến Tịnh Thiên: 64 đại a tăng kỳ
Tứ Thiền
1. Vô Tưởng Thiên: 500 đại a tăng kỳ
2. Quảng Quả Thiên: 500 đại a tăng kỳ
3. Vô Phiền Thiên: 1000 đại a tăng kỳ
4. Vô Nhiệt Thiên: 2000 đại a tăng kỳ
5. Thiện Kiến Thiên: 4000 đại a tăng kỳ
6. Thiện Hiện Thiên: 8000 đại a tăng kỳ
7. Sắc Cứu Cánh Thiên: 16000 đại a tăng kỳ
Trong đó NĂM TỊNH CƯ THIÊN (Suddhàvàsa) - Chỉ cho năm cõi Trời cao nhất của Sắc giới. Các vị Thánh chứng được quả Bất lai được sinh lên các cõi Trời này, để tiếp tục tu hành chứng quả A la hán:
1. Vô phiền Thiên (Atappà)
2. Vô nhiệt Thiên (Avihà)
3. Thiện hiện Thiên (Sudassi)
4. Thiện kiến Thiên (Sudassà)
5. Sắc cứu cánh Thiên (Akanitthà)
Năm cõi Trời này chỉ dành cho Thánh nhân ở, không có lẫn lộn các loài chúng sinh.
Trong [Kinh Trường Bộ / 14. Kinh Ðại bổn] Đức Phật có nói với các Tỷ-khen rằng Phật đã ở các tầng trời Tịnh Cư Thiên
VÔ SẮC GIỚI (những người tu thiền)
1. Không Vô Biên Xứ: 20.000 đại a tăng kỳ2. Thức Vô Biên Xứ: 40.000 đại a tăng kỳ
3. Vô Sở Hữu Xứ: 60.000 đại a tăng kỳ
4. Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ: 84.000 đại a tăng kỳ
Tóm tắt từ bài giảng cuả Thầy Thích Trí Siêu:
https://www.youtube.com/watch?v=CUBt1olh7DM
https://www.youtube.com/watch?v=cnFoXEJjKhU
https://www.youtube.com/watch?v=CUBt1olh7DM
https://www.youtube.com/watch?v=cnFoXEJjKhU
Nghiên cứu - Phật sự - Thiên Giới
Do duyên:
Trước năm 1975, có vị giáo sư người Thiên chúa giáo, khi đọc truyện Thái tử Tu-đại-noa bố thí vợ con, vị ấy đã lên án khá gay gắt trong một bài viết, nói rằng, hành động bố thí vợ con là quá đáng, là không có nhân tính (tôi nhớ có thể nhầm, ngại không đúng nguyên văn).
Vừa rồi, độc giả Thái Kim Du, có lẽ là một cư sĩ, trong một comment dưới bài viết của tôi trên trang mạng Thư Viện Hoa Sen, có nội dung sau:“Về việc bố thí cả vợ con của thái tử Vessantara, con chưa biết rõ lắm và con cũng không có ý kiến phản bác giống vị giáo sư thiên chúa giáo kia, nhưng con tha thiết mong được đọc bài viết của thầy, xin thầy từ bi đáp ứng”.
Không chỉ vị giáo sư Thiên chúa giáo kia, mà ngay chính Ni sư Thuần Chánh ở tại Ni viện Viên Chiếucũng có cảm nhận tương tự về chuyện thái tử Tu-đại-noa bố thí vợ con:
“Mới đây thôi, khi học đến phẩm An Lạc Hạnh trong kinh Pháp Hoa, chúng tôi thảo luận về sự bố thí và nhắc đến thái tử Tu-đại-noa. Cái gút nằm ở chỗ Thái tử cho hai đứa trẻ và công chúa.
Từ lúc biết đọc truyện cổ tích Phật giáo, tôi đã không thích câu chuyện này ở cái gút đó. Thái tử phát tâmbố thí, ông muốn cho lâu đài, thành quách, châu báu gì thì cứ việc cho, có muốn bố thí sinh mạng ông cho tròn hạnh nguyện cũng được, tôi không nói tới.
Nhưng cho hai đứa trẻ và công chúa là điều không thể chấp nhận. Cho vợ con là việc làm vô nhân bản, không thể coi hai trẻ và công chúa như một vật vô tình sở hữu. Và tôi không ưa được đoạn oái ăm đó, một đoạn lý đáng rất cảm động.
Vì chưa đồng ý, nên tôi chưa nhớ rõ vị giáo đạo đã mở gút đó thế nào cho hợp tình hợp lý. Tôi vẫn còn suy nghĩ, bởi đối với chúng tôi bố thí là hạnh đứng đầu trong "sáu ba-la-mật".
Truyện Thái tử Tu-đại-noa được kể với nhiều bút pháp khác nhau, cốt truyện có sai khác chút đỉnh, nhưng hễ đọc đến khúc quanh đó, tôi luôn bị "khựng" lại, thắc mắc không biết hiểu sao cho phải với hạnh nguyệncủa người xưa. Sự không ưa ngày trước không còn rõ nét nữa, chỉ còn lại một sự băn khoăn.
Có thể tôi tạm suy nghĩ như thế này:
Có lẽ ngày đó tôi không đứng trên tâm trạng và trái tim của người từ bỏ. Tôi chưa từng nghĩ mình phải từ bỏ cái gì hết. Và có cần thiết hay không sự "bố thí thái quá" đó trong cuộc đời này! Mãi cho đến khi, chữ "từ bỏ" nhen nhúm trong tim tôi, cái đốm lửa lập loè bé bỏng giữa đêm dày đặc đã làm chúng tôi trăn trở không ít.
Nghĩ đến thái tử Tu-đại-noa, cảm phục Thái tử bằng cuộc đời tu tập vụng về của mình. Ngẫm nghĩ lời dạy của ngài Triệu Châu: "Con nít ba tuổi cũng biết, ông già bảy mươi chưa chắc làm được".
Thật không dễ dàng buông đi cái gì đó khi nó là sở hữu của mình. Vật vô tình đã khó, huống là hữu tình - cái mà mình còn đang coi là niềm vui, là tin yêu, là điểm tựa.
Tôi vẫn ngồi bên bàn cân nghiêng ngửa, buồn rầu khi thấy thế giới nhẹ hơn trái tim mình, nghĩ đến thái tửTu-đại-noa và trái tim buông bỏ của Người mà thấm thía thuật ngữ "tu tập hạnh Bồ Tát".
Như vậy là chuyện bố thí vợ con của thái tử Vessantara (Tu-đại-noa) là sự thắc mắc của nhiều người, cả cư sĩ và tu sĩ. Do vậy, hôm nay, tôi xin trích lại một chương trong Mi-Tiên vấn đáp do HT. Giới Nghiêm soạn dịch, mà tôi là người mày mò nhuận sắc và hiệu chính mất gần hai năm mới hoàn thành. Đây là đoạn vấn đáp giữa đức vua Mi-lan-đà và tỳ-khưu Na-tiên về đề tài mà “trái tim chúng ta không yên ổn”. Hy vọng với trí tuệ siêu việt của tôn giả Na-tiên, không những giúp cho đức vua Mi-lan-đà thoả mãn mà cảchúng ta cũng được thở phào nhẹ nhõm!
Cẩn bút, MĐTTA.
(Vào đề, đức vua hỏi ngay):
- Thưa đại đức tất cả Bồ-tát thuở trước đều phải trải qua hoàn cảnh bố thívợ con, hay chỉ riêng Bồ-tát Vessantara của chúng ta thôi?
- Tâu, tất cả. Vị Bồ-tát nào hành ba-la-mật cũng đều bố thí vợ con như nhau cả thảy.
- Thế vợ con có hoan hỷ làm vật thí cho Bồ-tát Vessantara bố thí chăng?
- Tâu đại vương! Vợ thì hoan hỷ nhưng con thì không. Nếu trường hợpngười con ấy lớn, hiểu biết về nhân quả, phước báu, hiểu rõ tâm nguyệncủa cha thì nó sẽ hoan hỷ; còn nếu nó nhỏ quá, chưa biết gì thường thì khóc than rất bi lụy.
Vua Mi-lan-đà trầm ngâm giây lâu rồi nói:
- Câu chuyện Bồ-tát Vessantara bố thí vợ con, trẫm nghĩ ngợi rất nhiều. Nếu nói đấy là việc khó thì đúng là việc khó làm, thế gian không ai làm nổi, ngoại trừ Bồ-tát Vessantara! Nếu bảo đấy là sự nhẫn tâm, trái tim đã biến thành gỗ đá - thì chẳng ai có thể biện hộ dùm cho Bồ-tát Vessantara được, thưa đại đức!
- Đại vương xin cứ thẳng thắn cho. Lý do nào mà đại vương ghép tội Bồ-tát Vessantara như thế?
- Không dám. Trẫm đâu dám kết tội, nhưng rõ là trẫm có bảy điều muốn đem ra vấn nạn đại đức đây!
- Bần tăng xin rửa tai lắng nghe.
- Vâng! Đại đức hãy nghe đây:
Điều thứ nhất: Tại sao Bồ-tát lại đang tâm bố thí hai đứa con yêu của mình vốn là lá ngọc cành vàng - đến người bà-la-môn để làm tôi tớ cho gia đình hắn?
Điều thứ hai: Tại sao khi hai trẻ vùng khỏi sợi dây buộc của lão bà-la-môn, chạy đến bên Bồ-tát; khẩn cầu, van xin Bồ-tát giúp đỡ, hầu thoát khỏi bàn tay độc ác của lão ấy, Bồ-tát lại nguội lạnh, dửng dưng đến như thế?
Điều thứ ba: Trước đó, khi lão bà-la-môn cột trói hai trẻ, vừa lôi bừa đi, vừa đánh đập chúng trước mặt Bồ-tát, thế mà ngài chẳng động lòng? Chẳng động lòng, tim trơ trơ như gỗ đá thế kia, hay bảo đấy là ngài trú trong pháp xả ba-la-mật?
Điều thứ tư: Khi hai trẻ khóc than thống thiết rằng: "Cha ơi! Lão già bà-la-môn xấu xí kia đúng là quỷ dạ xoa! Con quỷ ấy xin hai con về là để ăn thịt. Vậy xin cha hãy cứu hai con!" Ôi! Con mình đau khổ như thế, van xin với nước mắt thống lụy như thế - mà Bồ-tát của chúng ta chỉ an ủi sơ sơ: Không có đâu, hai con, không có đâu, đừng sợ. Nói thế thì có được ích gì, chỉ như một nhát dao đâm sâu vào tình phụ tử đấy thôi.
Điều thứ năm: Khi đứa trẻ trai Jāli lăn lộn, vùng vẫy, ngã quỵ, gần bên chân Bồ-tát, ngước đôi mắt hoen đỏ, bi thảm, nức nở tâu xin rằng: "Thưa cha, xin cho em gái Kaṇhā của con được ở lại, nó còn nhỏ dại quá, nó không chịu nổi sự đau khổ này đâu. Con xin gánh chịu tất cả, con sẵn sàng để cho quỷ dạ xoa kia ăn gan, uống máu, ăn thịt con! Phải cứu em gái tội nghiệp của con, cha ơi!" Ôi! Trước sự thống thiết của con trai như thế mà Bồ-tát chẳng xúc động, chẳng nói năng gì, thì kể cũng lạ đời!
Điều thứ sáu: Khi bị lão bà-la-môn đánh đập, cột trói rất chặt, kéo bừa hai trẻ lê trên đất như hai con heo; trẻ Jāli chồm lên, lấy thân đỡ roi cho em, không ngớt chửi mắng lão bà-la-môn hèn hạ; thế mà Bồ-tát lại giả vờ quay mặt đi, chẳng rầy trách lão bà-la-môn một tiếng là cớ làm sao?
Điều thứ bảy: Lão bà-la-môn lôi hai trẻ đi xa dần, vấp phải đá, đụng phải cây, thân thể chúng bầm dập, rách nát, tươm máu, tiếng khóc la thảm thiết từ núi rừng hoang vắng vọng lại! Thế đó. Làm cha, làm mẹ có chút thương con thì trái tim chắc cũng vỡ ra làm trăm mảnh; thế mà Bồ-tát cũng dường như không, bước vào cốc, đưa tay khép cửa lại!
Thưa đại đức! Dù Bồ-tát Vessantara phát đại nguyện bổ túc ba-la-mật đi nữa, muốn thành tựu vô thượng Bồ-đề tuệ đi nữa, ngài cũng phải có trái tim biết thương xót con mình chứ? Ai nỡ nào đang tâm để cho con mình kêu gào, la khóc như vậy chứ? Thật trẫm không hiểu nổi.
(Đại đức Na-tiên trả lời):
- Đại vương nên nhớ rằng, việc bố thí vợ con của Bồ-tát, nhất là bố thí con, mà đại vương bảo là đang tâm, nhẫn tâm, không có trái tim ấy - đã chấn động mười ngàn thế giới trong cõi sa bà này! Chấn độngkhắp các cõi trời, người, Đế thích, a-tu-la, long vương, phạm thiên, dạ xoa, ma vương... Tất thảy, ai cũng nổi gai ốc, dựng tóc gáy; và ai cũng tán dương, khen ngợi không hết lời! Thế thì việc làm ấy là tốt hay xấu hở đại vương! Tốt hay xấu mà đại vương lại nghiêm khắc luận tội, trong lúc mười ngàn thế giới lại tán thán không hết lời?
- Trẫm hoài nghi về điều ấy!
- Vâng! Tốt hay xấu còn tùy thuộc cách nhìn cùng quan niệm riêng tư. Nhưng sự bố thí ba-la-mật của Bồ-tát có mười đức tính cao thượng, đại vương cũng nên biết, để từ đó rút ra kết luận cho mình.
- Xin cho nghe.
- Tâu, vâng. Mười đức tính ấy như sau:
Một là, sự bố thí siêu việt.
Hai là, dứt trừ sự thương yêu (bởi tâm ái luyến).
Ba là, thái độ dứt bỏ.
Bốn là, không ăn năn, hối hận.
Năm là, sự bố thí vi tế.
Sáu là, sự đoạn tuyệt.
Bảy là, sự bố thí to lớn.
Tám là, sự bố thí thế gian khó hiểu.
Chín là, sự bố thí khó khăn.
Mười là, sự bố thí chẳng ai so sánh được.
Sở dĩ mười ngàn thế giới rung động là do sức mạnh của mười đức tính ấy, tâu đại vương!
Đức vua Mi-lan-đà vẫn lắc đầu:
- Thưa, bao nhiêu đức tính cũng vậy thôi! Bao nhiêu sức mạnh cũng vậy thôi. Sự dứt bỏ, bố thí một cách cao thượng, siêu việt, được mười ngàn thế giới tán dương mặc dầu - trẫm vẫn nghi ngờ như thường! Sự bố thí mà không hề nghĩ đến sự đau khổ của kẻ khác, làm cho kẻ khác khóc than, la hét... mà có phước báu được sao? Đấy là con đường đi về cõi trời hay con đường đi vào địa ngục, đại đức?
- Tâu đại vương! Có thể điều ấy đúng khi ta chưa hiểu rõ lý nhân quả. Nhưng nếu ta hiểu rõ lý nhân quảrồi, đồng thời, thấy được cái đại nguyện và dụng tâm sâu kín của đức Bồ-tát thì ta sẽ không nghi ngờ gì nữa.
- Đại đức cứ tiếp tục.
- Tâu, vâng. Ví như có một đạo sĩ tu tập trong rừng sâu, hằng ngày trú tâm từ vô lượng, toát ra một năng lực mát mẻ bao phủ cả một vùng. Thế rồi, các loài hươu, nai... đến gần đạo sĩ mà chúng không hề sợ hãi. Bất chợt, sáng hôm kia, đạo sĩ tỏ vẻ hung dữ cầm cây đánh đuổi hươu, nai đi chỗ khác. Đại vương thấy thế nào, vị đạo sĩ đánh đập chúng sanh, vậy là độc ác, vậy là không có lòng từ sao?
- Thưa, đánh đập như vậy là không được rồi!
- Tâu đại vương! Chính đánh đuổi như thế, vị đạo sĩ đích thực mới có tình thương đối với hươu, nai! Vì sao vậy? Vị đạo sĩ nghĩ rằng, nếu chúng tưởng mọi người ai cũng đều hiền lành, vô hại, tìm đến chơi một cách vô tư như thế - thì có lúc, sẽ bị bọn thợ săn làm hại! Điều này chứng tỏ gì? Chứng tỏ hiện tại dường như đau khổ nhưng tương lai, sẽ lợi ích cho nó, an vui cho nó hơn. Câu chuyện bố thí hai con của Bồ-tát, chúng ta nên suy xét theo chiều hướng này thì may ra ánh sáng mới được lộ ra, tâu đại vương!
- Thưa, chưa được thuyết phục lắm, nhưng đại đức cứ cho xin ví dụ nữa đi.
- Tâu, vâng. Ví như có một sa-môn tu hành rất tinh tấn, có giới hạnh, bị té xuống hố gãy chân, gãy tay, máu ra rất nhiều. Có người thợ săn đi ngang, thấy vậy, khởi mối thiện tâm, muốn xuống cứu vị sa-môn ấy. Vị sa-môn nói rằng: "Tôi đau lắm, cứ để tôi chết ở đây!" Người thợ săn nói: "Ở đây tôi không có thuốc chữa, ngài hãy chịu khó, ráng chịu đau để tôi cõng về làng". Sau ba lần thuyết phục, vị sa-môn không chịu. Người thợ săn quyết giữ ý mình, quyết cứu sa-môn cho bằng được, bèn xuống hố cõng lên. Phàm tay gãy, chân gãy để yên thì ít đau, nhưng khi di chuyển, động cựa, các khớp xương sai lệch, đau đến tận xương tủy. Người thợ săn biết vậy, nhưng vì muốn cứu bậc tu hành, chẳng ngại đường xa vất vả, chẳng ngại tiếng rên la đau đớn của vị sa-môn, lúc đi bộ, lúc đặt lên xe kéo, chuyển được về làng. Lúc sắp xếp lại các khớp xương, bó giẻ để cột lại, vị sa-môn đau đớn bất tỉnh... Mấy ngày hôm sau, vị sa-môn ngỏ lờicảm ơn. Người thợ săn nói: "Ngài chịu khó tịnh dưỡng ở đây vài tháng, tôi nuôi ngài được. Khi nào lành, chân tay hồi phục, tha hồ lên núi mà tu!".
Tâu đại vương! Câu chuyện xảy ra như thế, ta biết rõ đâu nhân đâu quả, đại vương không lên án nghiêm khắc người thợ săn bất nhẫn trước sự đau đớn quằn quại của vị sa-môn chứ?
- Dĩ nhiên là không rồi. Chính nhờ chịu đựng được đau đớn ấy, vị sa-môn mới được lành bệnh an vui!
- Việc làm của người thợ săn - dường như lạnh lùng trước sự đau đớn của vị sa-môn - có được quả báonhư thế nào? Y sẽ mở cửa thiên đường hay y mở cửa địa ngục?
- Khách quan mà luận nhân quả, có lẽ người thợ săn được phước báu rất lớn, rất vĩ đại thưa đại đức!
- Sự khổ sở, đau đớn của hai trẻ, và cái tâm dường như lạnh lùng của Bồ-tát, cũng tương tự như vị sa-môn và người thợ săn vậy, tâu đại vương!
- Qua hai câu chuyện kể của đại đức, trẫm thấy nó có lý được một vài phần.
- Còn nữa, tâu đại vương! Ví như đại vương làm vua một nước, hôm nọ, đại vương muốn làm một công trình dẫn thủy nhập điền vĩ đại; sẽ có lợi ích rất lớn cho nông nghiệp, có thể đem đến hạnh phúc ấm nocho cả nước. Đại vương bèn ra một thông cáo rộng rãi là muôn dân phải đóng thuế bằng tiền, bằng lúa gạo hoặc bằng nhân công. Nếu ai không nộp sẽ bị trói, đánh đập hoặc bị giam cầm... lệnh ban ra, mọi người rất sợ hãi, ai cũng than khổ, than không có tiền, than không có lúa gạo! Người không nộp thì bị đánh đập, bị bắt, bị trói, bị giam cầm... lời ta thán của muôn dân kể sao cho xiết!
Tuy nhiên, đại vương vẫn lạnh lùng, cương quyết làm công trình thủy lợi, dẫu trải qua biết bao gian lao, vất vả; lại còn bị hàm oan, bị nhân dân lên án là khắc nghiệt, là bạo chúa... Sau khi công trình làm xong, muôn dân hoan hỷ, sung sướng; từ rày về sau, ruộng đồng khỏi lo thiếu nước, lúa ngập khỏi lo úng nước... Nông dân được mùa, mở hội ăn mừng!
Tâu, đại vương! Ví như đại vương làm việc ấy, đại vương quả thật là người không có trái tim, không xúc động trước sự ta thán của muôn dân, bá tánh nhỉ?
Đức vua Mi-lan-đà mỉm cười:
- Chính cái kết quả sau cùng đã biện hộ giùm cho trái tim của trẫm rồi!
- Hay lắm - Đại đức Na-tiên cũng mỉm cười - Chính kết quả sau cùng sẽ biện hộ giùm cho trái tim của Bồ-tát Vessantara, tâu đại vương!
- Thú thật với đại đức, câu chuyện kể của đại đức, mặc dầu là ví dụ, nhưng sao nó giống với vài công việc lớn mà trẫm thường làm cho quốc độ này. Ban đầu, vì không hiểu nên bá tánh rất ta thán, nhưng sau đó họ ca tụng không hết lời. Còn riêng phần trẫm, trẫm rất mãn nguyện. Kết quả mai sau, kiếp sau ra sao, trẫm cũng không cần biết nữa.
- Đều là phước báu trời, người rất vi diệu đấy, tâu đại vương!
- Thế giả dụ nhân dân đóng thuế rất sung mãn, trẫm lấy số tiền ấy mua vải cóc, lương thực, thực phẩm - để cúng dường, bố thí đến cho thập phương sa-môn, bà-la-môn, đạo sĩ, những người bần cùng đói khổ - thì có được phước báu không đại đức?
- Vẫn được rất nhiều phước báu, tâu đại vương! Thế đại vương còn hoài nghi gì về việc bố thí hai trẻ của Bồ-tát Vessantara nữa chăng?
- Vẫn còn hoài nghi, đại đức! Việc làm của trẫm về dẫn thuỷ nhập điền, bố thí, cúng dường mà lấy tiền thuế - mới nghe thì từa tựa như chuyện Bồ-tát bố thí hai trẻ: một bên thì bá tánh kêu than, một bên thì hai trẻ la khóc. Nhưng dù sao hai trẻ là con ruột của mình, đem cho đi thì hơi quá. Bố thí hai trẻ là việc làmquá trớn, quá đà, như quả cân nghiêng hẳn về một bên! Một bên là khối đá trơ lì, nặng nề, bên kia là trái tim nhẹ hẫng. Phước báu sau này thế nào không ai biết, nhưng chắc chắn thế gian thường tình không ai khen ngợi đâu, họ chê trách thậm tệ là dĩ nhiên vậy.
- Đại vương cứ nói nữa đi!
- Vâng! Đại đức hãy xem! Cái gì quá trớn, quá đà đều không tốt cả:
Cái xe chở nặng quá sức mình, trục, căm sẽ gãy.
Ăn vật thực quá nhiều, trúng thực mà chết!
Thuốc bổ quá liều, thành độc dược.
Mưa quá nhiều, lúa ngập chết.
Người bố thí với hằng tâm, hằng sản... nhưng thỉnh thoảng cũng phải biết tính toán, xem lại sự chi tiêu, xem lại gia sản - nếu không, sẽ khánh tận.
Nắng quá gắt, quá nhiều, quả đất sẽ nứt nẻ.
Người có lòng tham ái, tham dục quá nhiều, có thể đưa đến điên loạn.
Tham lam của cải, bạc tiền nhiều sẽ dẫn đến trộm cắp, cướp của, giết người.
Người ham nói, nói nhiều, dễ bị lỗi lầm.
Lũ lớn quá sẽ vỡ bờ.
Người học nhiều quá dễ loạn tâm, loạn trí.
Người dũng cảm quá thì yểu thọ...
Thưa đại đức! Quá trớn, quá đà... đều đưa đến kết quả xấu, bố thí hai trẻ cũng là cái gì nằm trong định luật tất yếu ấy.
- Tâu đại vương! Cái gì quá trớn, quá đà, quá nhiều như đại vương kể thì chẳng đem đến kết quả tốt đẹp. Nhưng cũng có những cái quá nhiều, quá mạnh, quá to lớn... chúng không nằm trong "định luật tất yếu" của đại vương thì sao?
- Xin cho nghe!
- Tâu, vâng! Ví dụ như:
Người thắng cuộc cuối cùng qua các trận đô vật, được mọi người tán thưởng, chắn hẳn là tay đô vật mạnh nhất.
Quả đất to lớn, vĩ đại - nhờ vậy, nó là nơi nương tựa, che chở, nơi sinh sống cho con người, muôn thú, cỏ cây!
Hư không vĩ đại quá, nhờ vậy, nó mới bao dung được quả đất, trăng sao!
Sư tử uy dũng quá nó mới làm chúa sơn lâm!
Ngọc māṇi quý báu quá nó mới đứng đầu trân châu thất bảo, thành tựu được ước muốn của con người.
Đức vua cao sang và thắng phước nên đứng đầu cả trăm họ, muôn dân!
Kim cương cứng rắn quá, vật gì nó cũng cứa đứt được.
Tỳ-khưu giới đức cao thượng quá nên dạ xoa, a-tu-la đều phải quỳ mọp dưới chân.
Đức Phật tối thượng quá nên tam giới không có ai sánh bằng...
Đại vương, tương tự như thế, việc bố thí hai trẻ là việc khó làm, là chuyện quá hy hữu, quá vĩ đại, tạo nên năng lực quá lớn, quá mạnh - nên sẽ có phước đức rất thù thắng, rất vi diệu, chấn động cả mười ngàn thế giới, làm cho người, trời, Đế thích, phạm thiên, a-tu-la, long vương, dạ xoa... không hết lời tán dươngkhen ngợi. Và việc Bồ-tát bố thí đặc thù, vô thượng ấy - quá đà, quá trớn ấy, chính là nhân duyên thành tựu quả vị Chánh đẳng giác đấy, tâu đại vương!
Đức vua Mi-lan-đà vô cùng thán phục:
- Trí tuệ của đại đức quả là vô biên, vô lượng. Những ví dụ của trẫm đưa ra dường như là đẩy đại đức đến chân tường; thế mà, cũng những ví dụ tương tự, đại đức lại tạo sức bật trở lại, làm cho trẫm không còn chỗ mà thối lui. Thật là khâm phục vậy.
Đại đức Mi-lan-đà khiêm tốn:
- Đại vương đừng làm cho bần tăng thêm hổ thẹn. Chính nhờ đại vương đã gợi ý cho bần tăng đấy thôi. Còn nữa, ý đại vương còn muốn xác định là bố thí không được quá trớn, quá trớn kết quả sẽ xấu. Bần tăng không nghĩ thế, tuy nhiên, vẫn có những giới hạn nhất định. Có những bố thí mà kết quả của nó sẽ là bốn đường ác đấy, tâu đại vương!
- Xin cho nghe.
- Tâu, vâng. Có mười trường hợp không nên bố thí như sau:
Một, cho người nữ đến người nam để thỏa mãn dâm dục.
Hai, cho bò cái đến bò đực.
Ba, cho rượu hoặc chất say.
Bốn, cho hình ảnh, hình vẽ khiêu dâm.
Năm, cho khí giới.
Sáu, cho thuốc độc.
Bảy, cho xiềng xích để người ta trói, giam cầm kẻ khác.
Tám, cho gà mái đến gà trống.
Chín, cho heo cái đến heo đực.
Mười, cho bàn tính sai, cân đo lường sai, để người ta lường gạt nhau!
Đấy là mười loại bố thí mà người trí thức không làm vì nó là chìa khóa mở cửa đi vào ác đạo. Còn các loạibố thí khác thì tùy sức, tùy nghi, phải thế không đại vương?
- Có lẽ vậy.
- Thế thì có ấn định một ranh giới nào nữa trong việc bố thí không đại vương?
- Trẫm không rõ lắm.
- Ví dụ như cơm nước, y phục, chỗ ở, chiếu đệm, gường ghế, vườn ruộng, tôi trai, tớ gái, trâu bò, gà, vịt... đều có thể bố thí được chứ?
- Thưa, vâng.
- Ví dụ cho tài sản, của cải, bạc tiền, một trăm đồng tiền vàng, một ngàn đồng tiền vàng... hẳn là được chứ?
- Thưa, vâng. Có quyền bố thí cả tay, chân, tim, óc... và luôn cả sanh mạng mình nữa, thưa đại đức - nếu biết trú tâm vô lượng!
Đại đức Na-tiên nói:
- Đại vương bảo bố thí cả tay, chân, tim, óc và luôn cả sanh mạng đều được - thì sao Bồ-tát Vessantara bố thí vợ, con - Đại vương lại bảo là quá đà, quá trớn, không được?
- Đại đức cứ nói.
- Một người cha nợ nần, vì quá nghèo khổ túng bấn, bèn cho con đi ở thuê hoặc bán con cho người khác - là chuyện thế gian cũng thường lắm mà!
- Vâng!
- Thế có ai chê trách họ không?
- Có chứ! Nhưng rồi người ta cũng thông cảm họ hoàn cảnh quá đói nghèo.
- Cũng thế, tâu đại vương. Đức Bồ-tát tầm cầu vô thượng Bồ-đề tuệ, vì đói ba-la-mật, vì nghèo phước báu - nên phải bố thí vợ, con, đại vương cũng phải biết "thông cảm hoàn cảnh" của ngài chứ?
- Thưa, có lẽ vậy. Nhưng theo ý trẫm, bố thí cá nhân mình vẫn tốt hơn. Bố thí mình thì khỏi làm đau khổvợ con, vẫn là biện pháp hay nhất.
Đại đức Na-tiên giải thích:
- Người ta xin vợ, xin con mà mình lại đem cho mình là việc không hợp lẽ. Xin vật này mà đem cho vật khác là không hợp lẽ. Nhưng nếu có người xin chính mình thì ngài cũng không tiếc đâu. Giả sử không phải người mà là sư tử, cọp, beo, chó rừng... muốn xin ngài để ăn thịt, thì ngài cũng cho ngay, không hề tiếc sanh mạng. Đại vương nên nhớ rằng, đức Bồ-tát là miếng thịt chung cho tất cả chúng sanh đó sao?
Ví như trăm loài cây trong rừng đến mùa thì đơm hoa trổ trái, rồi xanh, rồi chín vàng. Trái cây chín vàng ngon ngọt ấy hằng để tự do cho muông thú, muôn chim, người đến đấy hái ăn tha hồ. Cũng như thế ấy là tâm của đức Bồ-tát khi phát nguyện ba-la-mật, tâu đại vương!
Trải qua hai mươi bốn vị Phật tổ, trải qua bốn a-tăng -kỳ và gần một ức kiếp như thế, Bồ-tát tu tập ba-la-mật vô lượng như thế; đã từng xả ly, dứt bỏ vô lượng ngai vàng, công danh, phú quý, tài sản, lúa gạo, xe cộ ruộng vườn, tôi trai, tớ gái, vàng ngọc... đến cho tất cả chúng sanh. Ngài lại bố thí tay, chân, tim, gan, mắt... và luôn cả sanh mạng mình nữa. Ngài cương quyết dứt bỏ, bố thí vật ngoại thân, cho đến nội thể, sanh mạng... cũng chỉ vì một mục đích vô thượng, đánh đổi bồ-đề tuệ, Chánh đẳng giác, tâu đại vương!
Ví như một vị quan tốt, thanh liêm, chánh trực, có tâm thương yêu dân. Vị ấy ở trong một triều đình có ông vua tàn bạo, sống đời xa hoa, phù phiếm. Dân chúng bị sưu cao, thuế nặng, đói khổ nhưng của cải, lương thực, vàng bạc của cung điện chất đầy như núi.
Cũng vì mục đích cứu khổ cho bao người, vị quan tốt kia bèn bán tất cả ruộng vườn, gia sản, tôi trai, tớ gái... để mua vải vóc, lương thực, vật thực... để chẩn bần, cứu đói cho chỗ này chỗ kia. Tiếng lành đồn xa, nhân dân ái mộ; họ lật đổ triều đình và suy cử vị quan tốt kia lên làm vua. Sau khi lên ngôi, vị tân quốc vương kia không tiếc của kho, đem phân phát hết cho dân, nhờ vậy, đời sống trong quốc độ thoát khỏi đói nghèo, dần dần cường thịnh.
Tâu đại vương! Việc làm của vị quan tốt kia cũng tương tự như việc làm của Bồ-tát Vessantara. Muốn cầu ngôi vị Chánh đẳng giác để cứu khổ cho chúng sanh ba cõi bốn loài thì ngài đâu có tiếc thứ gì? Đâu phải vì không thương vợ, xót con mà ngài bố thí vợ con? Chính đức Thế tôn, sau khi giác ngộ, ngài đã có nói một câu kệ với đại ý rằng:
"Này các thầy tỳ-kheo! Chính khi bố thí vợ con, không phải Như lai không thương yêu vợ con. Hai trẻ Jāli và Kanhā thông minh và ngoan ngoãn hết mực, công chúa Maddī hiền thục, đức hạnh nhất trên trần hoàn. Có con như thế, có vợ như thế mà đem bố thí, ruột Như lai cũng đứt từng khúc. Nhưng Như lai phải hướng đến cái cao xa, cái rộng lớn hơn: đấy là ngôi vị Chánh đẳng giác, đấy là tình thương không bến bờ đối với tất cả chúng sanh!"
Đại vương nên nhìn xa, thấy rộng, lặn vào chiều sâu thăm thẳm của câu chuyện hơn thế nữa!
- Vâng, vâng! Trẫm đang suy nghiệm đây, đại đức cứ tiếp tục câu chuyện đi!
- Tâu, vâng! Đại vương chớ nên lên án Bồ-tát dửng dưng, lạnh lùng. Đức Bồ-tát trước cảnh tượng đứt ruột ấy, đã âm thầm chiến đấu với chính mình. Ngài nuốt sự nhẫn nại ấy, sự chịu đựng ấy, lửa đốt ấy vào bên trong, nên sóng lòng trào sôi dữ dội - Đại vương đâu có biết. Chính khi Bồ-tát bước vào thảo am, khép cửa lại, là nhằm ngăn bớt tiếng kêu khóc của hai con từ núi rừng xa xôi vọng đến. Ngài đã không chịu nổi, muốn bịt hai tai lại. Nỗi "căm hận" lão bà-la-môn ác độc làm cho toàn thân ngài run lên, máu dồn dập, ngài phải thở bằng miệng, nước mắt tuôn tràn. Ồ! Không phải là nước mắt nữa mà chính là lệ máu rỉ ra vì xót thương hai con. Ngay khi ấy, một niệm sân khởi lên, một niệm sát khởi lên đối với lão bà-la-môn; nhưng Bồ-tát đã kịp thời xả ly, niệm tâm từ mát mẻ, một hồi lâu sau mới trấn tỉnh lại được!
Đại vương thấy đó. Đại vương thấy rằng, lòng xót thương hai trẻ của Bồ-tát đâu khác gì thế gian, đồng thời còn hơn cả thế gian nữa. Tại sao vậy? Vì khi bố thí dứt được hai trẻ thì chí nguyện của ngài sẽ thành tựu, đồng thời hai trẻ sẽ được sung sướng và hạnh phúc hơn. Một việc làm mà thành tựu hai lợi ích, đại vương có biết chăng?
- Đại đức hãy giảng giải thêm. Cái lợi ích thứ nhất, tức là thành tựu bố thí ba-la-mật thì trẫm rõ rồi; nhưng còn lợi ích thứ hai: sự sung sướng và hạnh phúc của hai trẻ, trẫm hồ nghi lắm! Cho con để làm tôi tớ mà gọi là sung sướng, hạnh phúc ư?
- Tâu đại vương! Hai trẻ vốn là cành vàng lá ngọc, ở trên nhung lụa thế mà phải sống đời ăn trái chua, củ sống, hẳn là rất khổ sở vậy. Do có thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, Bồ-tát biết rõ số phận tương lai của hai đứa trẻ. Thứ nhất là hai trẻ không thể làm tôi đòi hầu hạ ai. Thứ hai, rồi hai trẻ sẽ được gặp lại thái thượngphụ ở kinh thành, sẽ thoát khỏi cảnh đói khổ ở rừng sâu!
- Có thật thế không, đại đức?
- Thật ra, Bồ-tát còn biết nhiều hơn thế nữa. Ngài biết rằng rồi "ông nội" sẽ chuộc lại hai trẻ. Ngài biết rằng, vì lý do hai trẻ về kinh đô nên vua cha sẽ thỉnh ngài về để kế vị ngôi vương. Đó là cơ hội tốt để ngài lo cho hạnh phúc muôn dân, đồng thời bổ túc ba-la-mật cho mình. Ngài còn biết rằng, lão bà-la-môn tuổi thọ không còn được bao lăm, phước duyên ít, kiếp phận hèn hạ chẳng thể nào bắt hai trẻ làm tôi tớ, dù chỉ một ngày, tâu đại vương!
- Thưa, các việc trên là có thể, nhưng việc dưới, việc Bồ-tát biết lão bà-la-môn vì phước duyên ít, chẳng thể bắt hai trẻ làm tôi tớ dù chỉ một ngày, là sao ạ? Lấy gì làm bằng chứng?
- Tâu đại vương! Bằng chứng về lãnh vực này thì bần tăng đành chịu. Tuy nhiên bần tăng sẽ đưa ra ở đây rất nhiều ví dụ xoay quanh vấn đề ấy. Và có lẽ từ những ví dụ ấy đại vương sẽ tự giải đáp thắc mắc cho mình chăng?
- Trẫm đồng ý!
- Tâu, ví dụ như mặt trời, mặt trăng, nó to lớn, vĩ đại, nhiều oai lực; vậy ai trên thế gian này có khả năng lấy mặt trời, mặt trăng ấy đặt vào rương, vào thùng để làm đèn chiếu sáng không?
- Chẳng thể được đâu, đại đức!
- Lại nữa, ví như viên ngọc māṇi quí báu của đức Chuyển luân Thánh vương, rất to lớn, hào quang chói lọi, chiếu sáng vô ngại cả hằng do tuần; có người khởi tâm muốn ngăn hết hào quang của ngọc māṇi, bèn lấy một tấm vải bọc lại, hy vọng rằng làm như vậy ngọc māṇi sẽ không còn tỏa sáng nữa. Đại vương nghĩ thế nào, người kia có thể đạt được ước nguyện chăng?
- Thật không thể, đại đức! Ngọc māṇi vẫn tỏa sáng hào quang như thường!
- Còn nữa, ví như voi chúa Uposatha có màu trắng như tuyết, thanh khiết, cao sang; được trang điểm châu báu rực rỡ, có thân hình uy nghi to lớn dị thường. Là báu vật chỉ phát sanh đến cho các bậc chân mạng đế vương hoặc cho các vị có phước đức thù thắng. Có người nghèo khổ kia khởi tâm muốn bắt bạch tượng ấy về nuôi ở nhà mình. Kẻ kia có làm được việc ấy không, đại vương!
- Thật là một ý nghĩ cuồng vọng, được sao mà được, đại đức!
- Còn nữa, ví như rồng chúa Nandopananda có oai lực lớn, sức mạnh lớn, nó to lớn cho đến đổi có thể quấn bảy vòng quanh núi Sineru. Có người sắm một cái đãy, định bắt nhốt rồng chúa kia. Việc làm ấy là thế nào hả đại vương?
- Thưa, có lẽ hắn ta là người điên!
- Tâu, đại vương! Lão bà-la-môn đến xin hai trẻ để về làm tôi tớ cho mình là việc làm của người ngu, kẻ cuồng vọng, là người điên... Tương tự như muốn lấy mặt trời mặt trăng đặt vào thùng, lấy vải bọc ngọc māṇi mong ngăn ánh sáng, bắt voi chúa Uposatha, về nhà nuôi, bắt rồng chúa Nandopananda nhốt vào đãy! Đấy là những việc làm không thể. Lão bà-la-môn ngu hèn, thiếu phước kia chẳng thể bắt hai trẻ làm tôi tớ dù chỉ một ngày, tâu đại vương!
- Thưa, các ví dụ kia nêu bật là những việc làm bất khả, nhưng ý nghĩa cuối cùng trẫm vẫn chưa lãnh hội.
- Tâu, vâng! Dĩ nhiên Hy-mã-lạp-sơn là vua của muôn núi, cao năm trăm do tuần, dài rộng ba trăm do tuần, tổng cộng có tám vạn bốn ngàn đỉnh cao. Nó cao đến chót vót tầng mây, là nơi rót đầy năm con sông lớn, hằng trăm ngàn, hàng ức triệu cây cối, thảo mộc, muôn thú... nương tựa để sinh sống...! Đại vương! đại vương nghĩ như thế nào, nếu phước đức của hai trẻ được tu tạo ba-la-mật từ vô lượng kiếp, khả dĩ làm con của vị đại Bồ-tát có thể được ví như Hy-mã-lạp-sơn kia?
- Điều này thì có thể hình dung được. Phước đức của hai trẻ, nếu chất chồng lại thì Hy-mã-lạp-sơn nọ còn nhỏ bé lắm, thưa đại đức?
- Vậy là rõ. Phước đức của hai trẻ vĩ đại như thế thì có thể nào làm thân tội mọi cho lão bà-la-môn nghèo hèn, hạ liệt, ít phước kia chứ?
- Nghe thì hữu lý nhưng vẫn chưa thuyết phục được trẫm, thưa đại đức.
- Thật ra, những ví dụ của bần tăng đại vương đã hiểu. Đại vương đã hiểu rằng, người hạ liệt, thiếu phước chẳng thể nào sử dụng những báu vật chỉ để dành cho người có phước đức thù thắng. Tuy nhiên, đại vương cố ý hỏi là hỏi cho phần đông - thì bần tăng nào dám không tuân!
Tâu đại vương! Từ khi Bồ-tát Vessantara bố thí bạc vàng, của cải, vải vóc, lương thực, voi thần, xe ngựa, tôi trai, tớ gái... thì danh tiếng và uy đức của ngài đã lan xa nhiều quốc độ. Chẳng những lan xa nhiều quốc độ mà còn vang động đến cõi trời Đế thích, Phạm thiên, lan tỏa đến các cõi a -tu-la, càn-thát-bà, dạ xoa, long vương, cẩn-đà-la... Tất thảy trời người và chúng sanh hữu tình ba cõi không ai là không biết. Vợ và hai con của Bồ-tát đi theo sống giữa rừng thiêng nước độc làm đau xót cả hằng vạn trái tim cũng không ai là không biết.
Lửa cháy trên một ngọn núi cao trong một đêm tối trời, người ở rất xa vẫn nhìn thấy thì hai trẻ đi theo cha cũng như thế.
Cây Long Hoa ở núi Hy-mã-lạp mỗi lần trổ hoa, hương thơm lan xa xung quanh, các hướng, xa đến mười hai do tuần - hương thơm và danh tiếng của hai trẻ cũng y như thế.
Cộng với phước đức hai trẻ là con vua cháu chúa, với danh tiếng lững lẫy như thế, lão bà-la-môn bắt hai trẻ làm tôi tớ cho mình được chăng?
Lại nữa, đây là quyết định, là lời giải đáp sau cùng, có tính thuyết phục nhất, đấy là Bồ-tát biết rõ là "ông nội" sẽ chuộc cháu cưng của mình, nên trước khi đi, Bồ-tát đã căn dặn trẻ Jāli: "Này con, về thành, cha biết là ông nội sẽ chuộc hai con. Khi ông nội hỏi giá cả tiền chuộc, chính con phải trả lời; con trai là một ngàn lượng vàng, con gái không những một ngàn lượng vàng - mà còn tôi trai, tớ gái ngựa xe, trâu, bò... mỗi thứ mỗi một trăm nữa".
Và sự việc sau đó xảy ra y như thế. Lão bà-la-môn dẫn hai trẻ về nhà, khi nghe đến thân thế hai trẻ, cô vợ trẻ của lão bà-la-môn hoảng sợ, bắt lão dẫn hai trẻ trả lại cho triều đình.
Lão bà-la-môn được phần thưởng trọng hậu, ở trong một tòa lâu đài bảy tầng với tôi trai, tớ gái, ngựa, xe, trâu, bò, mỗi thứ một trăm. Nhưng y sống được bao lâu? Tâu đại vương, chỉ ngày đầu tiên thôi, y ăn một bụng no, trúng thực và chết. Tài sản được niêm phong, triều đình gọi quyến thuộc đến nhận, nhưng chẳng có một ai. Người vợ của lão ta, sau đó cũng không tìm thấy. Rốt lại, tài sản được sung vào quốc khố!
Điều ấy chứng tỏ gì, đại vương?
Chứng tỏ người thiếu phước không thể sử dụng phần phước quá với phước đức của mình!
Tóm lại, bố thí vợ và hai trẻ là giọt nước cuối cùng làm thành tựu công hạnh ba-la-mật; chấm dứt cuộc lưu đày, vợ và hai con trở lại đoàn tụ trong một quốc độ thịnh trị, hùng cường; Bồ-tát tiếp tục sứ mạng bồ-đề vô thượng. Nhân là vậy, sau trước viên dung! Đại vương còn mối nghi ngờ nào về chuyện bố thí vợ và hai con của Bồ-tát Vessantara nữa chăng?
- Hoàn toàn không! Tuyệt đối không! Cảm ơn đại đức vô cùng. Đại đức đừng có để tâm đến những câu hỏi khúc mắc của trẫm nhé. Trẫm cũng chỉ vì mình và mọi người đấy thôi!
- Tâu, vâng! Bần tăng hiểu!
(Trích câu 163 trong Mi-Tiên vấn đáp)
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Nghiên cứu
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


















