Select Menu

hot

Bài đăng nổi bật

TỦ SÁCH PHẬT HỌC DÀNH CHO SMARTPHONE

Trong cuộc sống hiện đại, sách điện từ đang dần thay thế sách giấy. Các tác phẩm Phật học, trong đó có Kinh Phật, cũng không ngoài quy luật ...

Tìm kiếm Blog này

random posts

Ads 180

Ads 180
Bán xe Ford Taurus

Popular Posts

Phật

Tăng

Thần Thông

Thiên Giới

Chùa

Đọa Xứ

Video


Có một lần buổi chiều Ngài Xá Lợi Phất đang ngồi trong hương thất giữa rừng, Ngài nghe tiếng nói bằng thiên nhĩ : “ Hãy cho tôi vào gặp Ngài tôi là mẹ cũ của Ngài kiếp xưa.” 
Đó là tiếng nói của một con ngạ quỷ. Tiếp theo là Ngài nghe tiếng nói của các vị thọ thần hộ pháp, tứ đại hộ pháp của Ngài : “Không, tôn giả đang nhập định, đừng làm phiền tôn giả, ngươi không thích hợp có mặt ở đây đâu.” 
Ngài nghe như vậy lập tức biết liền, Ngài lên tiếng: “Hãy để bà ấy vào, bà ấy là mẹ cũ của ta cách đây năm kiếp, hãy để bà ấy gặp ta “ Khi Ngài lên tiếng như vậy thì vị thọ thần tránh qua một bên. Con ngạ quỷ đó là một xác nữ, gầy ốm xanh xao dị dạng khó nhìn, Ngạ quỷ nói: “Con đói khổ quá, người có thể cứu được con chỉ có mình Ngài thôi. “ 
Ngài nổi tiếng là hạnh tri ân. Trong kinh nói, một ông già hết pin, hết điện cúng cho Ngài một vá cơm về sau đi tu không có ai nhận mà Ngài nhận. Chư tăng hỏi vì sao ai cũng chê mà Ngài nhận, Ngài nói: “Tôi nhận vì hai lý do, thứ nhất tôi thấy ông này trở thành đệ nhất biệt hạnh trong Thanh văn chứ không phải xác phàm. Thứ hai là thời ông còn mạnh khỏe có cúng cho tôi một vá cơm, nhờ vá cơm đó tôi được no một buổi bây giờ đành lòng nào thấy người ta tuổi già không có chỗ dựa nương làm sao tôi làm sao đành lòng.” 
Con quỷ nói : “ Chỉ có Ngài cứu được con “ Ngài trả lời, được rồi ngày mai ta mới giúp được. 
Sáng hôm sau Ngài đi bát, Ngài lấy thực phẩm đem về cúng dường chư tăng. Nên nhớ Ngài không còn gieo nghiệp thiện và nghiệp bất thiện nhưng Ngài vẫn làm việc bố thí bằng tâm Duy tác của vị A-La-Hán, làm không để lại quả báo, nhưng với sự Chú nguyện của Ngài muốn hồi hướng phước bố thí thì chỉ có bố thí mới hồi hướng được. 
Cho nên Ngài đem cái mâm với bình bát thực phẩm về cúng dường cho Phật và chư tăng rồi họ hồi hướng cho người mẹ quá khứ. Và trong vòng 3 giây, kim gió đồng hồ chưa đến giây thứ tư, thì bà lập tức sanh thiên trở lại thành một vị thiên nữ thiên kiều bá mị tuyệt sắc giai nhân hào quang chói lòa. 
Và chưa hết khi Ngài 84 tuổi, xét thấy theo thông lệ chư Phật ba đời, thì đệ nhất Thinh Văn phải Niết-bàn trước bổn sư cho nên Ngài vào lạy Phật xong , rồi Ngài về suy nghĩ, bây giờ Rahula đã tịch trên cõi trời Anna Kondanna đã tịch trong núi sâu với bầy voi rừng, còn ta có một chỗ ta phải về đó là gặp mẹ lần cuối. Mẹ ta là mẹ của bảy vị La-Hán vậy mà giờ này bà vẫn còn tà kiến. Và Ngài thấy rằng bà có duyên đắc Tu Đà Hườn và người độ cho bà phải là Ngài chứ không phải ai khác. 
Thế là trong buổi chiều đó lạy Phật xong Ngài trở về làng xưa. Và mẹ Ngài là một nữ đại gia triệu phú. Sau khi bà sắp xếp chỗ nghỉ đêm cho 500 vị Tỷ Kheo xong bà dọn riêng cái phòng của Ngài Xá Lợi Phất mà bà vẫn để dành đó trong 84 năm qua từ ngày con bà bỏ nhà ra đi. Bà bây giờ đã 120 tuổi. Cứ quét dọn chưng hoa, thay rèm củ kỹ thay nệm rồi thay cái khác, cứ như vậy , bà chờ con 84 năm trời. Bây giờ con 84 tuổi trở về bà vẫn dọn lại cho Ngài căn phòng mà ngày xưa bà sanh Ngài trong phòng đó. 
Chư thiên đế thích Phạm thiên xuống hầu, diện kiến. Trong kinh nói Ngài bị kiết máu, hết bô này đem ra bô khác đem vào. Lúc rạng sáng bà mẹ vào hỏi : “Sao suốt đêm phòng con cứ sáng lòa là sao ? “ Ngài nói: “Phạm Thiên vào hầu “ bà nói: “Trời đất, mẹ thờ Phạm thiên một đời mà sao giờ Phạm thiên xuống hầu con. “ Ngài không nói về Ngài, Ngài chỉ nói : “ Mẹ tưởng tượng đi, Phạm thiên mà xuống hầu tôi thì bậc đạo sư thì còn như thế nào nữa.“
Bà nghe hoan hỉ quá. Ngài thuyết cho bà nghe về Bốn Đế, lập tức bà đắc Tu Đà Hườn. 
Khi đó Ngài quay qua hỏi em ruột là Ngài Cunda: “Bây giờ là canh mấy.”Ngài Cunda thưa: “Dạ canh cuối.” Ngài nói : “Các sư đệ nghe nè, mấy chục năm qua anh em sống chung với nhau, tôi có làm cái gì nói cái gì mà anh em không vui, hãy bỏ quá cho tôi. Bây giờ tôi đi. Và đây là câu nói cuối cùng, các hành là vô thường, ở lại tinh tấn, chớ có dễ ngươi.“ 
Nói xong tôn giả Xá Lợi Phất đệ nhất trí tuệ, người đứng sau bậc đạo sư đã lấy chéo y che mặt mình lại rồi nhập thiền, xuất sơ, nhập nhị xuất nhị, nhập tam xuất tam, nhập tứ, nhiều lượt như vậy và xuất khỏi tứ thiền lần cuối chấm dứt hơi thở và vĩnh viễn ra đi, địa cầu rung động. 
Đó là Ngài Nam mô đại hiếu Xá Lợi Phất là vậy. Bên Bắc Tông thì sửa lại là Mục Kiền Liên. 

Còn ngài Mục Kiền Liên thì sao? Ngài Mục Kiền Liên phải nói là nhân vật số 2 trong thinh văn, nhưng tại sao lúc nảy tôi có ghi một câu rất dễ hiểu lầm đó là chuyện về Ngài Mục Kiền Liên là sao? Mình bất cẩn mình nghe nói gương xấu thì mình coi thường thật ra gương tốt thì người ta bắt chước mà gương xấu là để người ta tránh. 
Tại sao ngài Mục Kiền Liên bị người ta bằm như tương? Vì kiếp xưa Ngài đã có một kiếp tiền thân sợ vợ, Ngài nuôi cha mẹ già mù lòa mà cô vợ tánh tình trời ơi đất hỡi, không chỗ nào xài được. Cứ phải nuôi mẹ chồng nuôi cha chồng mù lòa, nàng khó chịu lắm. Bữa đó, ngài Mục Kiền Liên vắng nhà, cô vợ lấy cơm rải đầy nhà. Ngài Mục Kiền Liên về kêu trời. Cô vợ đổ thừa cho hai ông bà bày biện quăng ném chịu không nỗi, Ngài Mục Kiền Liên nghe như vậy thương cô vợ quá bèn đem cha mẹ vào trong rừng và nói là đi chơi. Vào tới rừng thì Ngài lấy khăn bịt miệng mình lại giả giọng làm ăn cướp hò hét đánh đập hai ông bà. Hai ông bà mù đâu biết gì đâu, bị con đánh hết đòn này đòn khác mà còn nói : “Con chạy đi ba mẹ già rồi chết cũng không sao, con còn trẻ con chạy đi “.
Có chỗ nói là đập hai ông bà chết, có chỗ nói là nghe thương quá đem về nuôi tiếp. Nhưng dầu đem về nuôi tiếp hay là đập cho chết kiểu nào thì cũng là đại trọng nghiệp rồi, vì đó là hai đấng sanh thành. Họ đang sống trong từ vô lượng tâm từ bi với mình mà. 
Cho nên vì tội nghịch thiên bội địa đó Ngài chết rồi bị đọa địa ngục, đời đời sanh ra là cứ bị chết thảm. 
Cuối cùng kiếp chót là đệ nhất thần thông La-Hán vậy mà cũng phải viên tịch kiểu không được đẹp lắm. 

Không hiểu vì đâu mà Bắc tông họ lại thay đổi nội dung, họ lại biến Ngài thành Mục Liên đại hiếu, một vị lục thông mà khi thấy mẹ bị đọa lại đem cơm của loài người đến cho mẹ ăn. Một người học đạo sơ sơ cũng đã biết loài nào ăn thức ăn nấy, làm sao đem cơm của loài người bắt cho Ngạ Quỷ ăn. Cái lạ thứ hai là đã là vị La-Hán mà mẹ không ăn được Ngài bèn khóc. Cái lạ thứ ba không biết cách làm sao để cứu mẹ, bèn chạy về hỏi Phật. Chứ còn bên Nam Tông thì kinh điển nói rất rõ ràng, có nghĩa là vị lục thông thì chuyện đó làm gì không biết. Không biết lý do nào mà họ ém vụ Ngài Xá Lợi Phất là đại trí đại hiếu, họ đẩy ngài xuống hàng ngô nghê ngốc nghếch, còn Ngài Mục Kiền Liên thì họ đẩy trở ngược lại thế đại hiếu Mục Liên. Chỗ này để cho quí vị tự xét. 

Sư Giác Nguyên
(chép lại bài giảng của Sư ngày 19-12-2017)
- -


(Trích các câu giảng của Sư Giác Nguyên từ nhiều bài)

1. Katamā ca, bhikkhave, sammādiṭṭhi? Yaṃ kho, bhikkhave, dukkhe ñāṇaṃ, dukkhasamudaye ñāṇaṃ , dukkhanirodhe ñāṇaṃ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ – ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammādiṭṭhi.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tri kiến? Này các Tỷ-kheo, chính là trí về khổ, trí về khổ tập, trí về khổ diệt, trí về con đường đưa đến khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tri kiến.

====

Có bốn sự thật chúng ta bắt buộc phải thấy. Phải thấy nó bằng trí tuệ giác ngộ để không còn là phàm phu nữa, không còn sanh tử nữa:

1. Sự thật thứ nhứt là mọi hiện hữu ở đời là khổ dầu tất cả những thứ gì đó thuộc về 6 căn hay 6 trần thì hễ hiện hữu ở đời thì nó đều là khổ trực tiếp hay gián tiếp.

2. Sự thật thứ hai nếu mọi thứ ở đời là khổ thì những gì ta thích thú, kiếm tìm, đam mê, hưởng thụ cũng đều là trong khổ hết. Mình thích trong khổ có nghĩa là mình đang kín đáo âm thầm lặng lẽ tạo thêm cái khổ mới.

3. Sự thật thứ ba là nếu muốn hết khổ thì không tiếp tục thích trong khổ nữa.

4. Sự thật thứ tư là khi sống bằng ba nhận thức trên đây là chúng ta đang có mặt trên con đường thoát khổ.

===

Chánh kiến thứ nhứt là cái thấy chín chắn về bản chất tam tướng (vô thường tướng, khổ tướng và vô ngã tướng) của vạn hữu gồm những gì trong và ngoài chúng sinh.

Chánh kiến thứ hai thấy được cái tính nhân quả, thấy là mọi thứ ở đời nó đều tồn tại trên nguyên tắc nhân quả. Thiện thì nó đều đem lại hỷ, lạc. Ác đem lại khổ ưu, khổ thân, khổ tâm. Còn hỷ lạc là vui thân, vui tâm. Đó là cái luật của trời đất.

===

Chánh kiến gồm có 2 câu:

Câu 1: Mọi sự ở đời do duyên mà có, khi hiểu như vậy mình trừ được đoạn kiến.

Câu 2: Khi có rồi thì phải bị mất đi, cái này trừ được thường kiến.

https://toaikhanh.com/read.php?doc=201909121136&lan=vn

2. Katamo ca, bhikkhave, sammāsaṅkappo? Yo kho, bhikkhave, nekkhammasaṅkappo , abyāpādasaṅkappo, avihiṃsāsaṅkappo – ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsaṅkappo.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy? Này các Tỷ-kheo, chính là xuất ly tư duy, vô sân tư duy, vô hại tư duy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tư duy.

===

Chánh tư duy gồm có 3 đó là:

1. Ly dục tư duy

Là lìa bỏ một cách có ý thức, có chủ ý (intentionally), đối với sự cám dỗ của vật chất, của tình cảm, tình dục.

2. Vô sân tư duy

Là không có bất mãn, không có ý thức đối kháng với bất cứ người hay vật ở đời. Tôi nói các vị nghe có hiểu không? Là lìa bỏ tâm thái bất mãn, tâm thức đối kháng đối với người và vật ở đời. Lớn chuyện lắm. Nếu mình không nghe định nghĩa như vậy đó thì mình thấy Bát chánh đạo là chuyện trên mây, chuyện trên trời, chuyện của mấy bậc hiền thánh trên 9 tầng cao. Sai, không phải. Chuyện của chúng mình tại đây và bây giờ là lìa bỏ một cách có ý thức tâm thái bất mãn, tâm thức đối kháng đối với muôn loài gồm người và vật.

3. Bất hại tư duy

Là lìa bỏ một cách có ý thức tâm thái xung đột mâu thuẩn đang trên đà bạo lực, bạo động. Là một trạng thái tâm xung đột mâu thuẩn ở mức hành động qua thân và khẩu, phun ra những câu mà làm cho người ta phải máu lệ, ra tay tấn công, triệt hạ, tiêu diệt, chà đạp đối với người, với vật. Không chỉ với người mà còn với vật: giận quá đập bàn, đập ghế, đập chén, đập dĩa, đập máy móc, đốt nhà, liệng đá vô cửa kiếng. Thì cái đó đều là hại tư duy hết. Chứ đừng có nói là “Tôi có làm gì đâu? Tôi chỉ có liệng cục đá vô cửa sổ chứ có gì mà làm gì dữ vậy?" Đó là hại tư duy, có nghĩa là mình biến cái bất mãn đó thành hành động, mình dùng cái tâm thái xung đột và mâu thuẩn ở cái mức độ ngoài kiểm soát, ngoài kềm chế để dẫn đến một cái động thái bằng thể xác, tay chân, hay là bằng ngôn ngữ, lời nói để gây ra cái sự đổ vỡ, tan nát, sụp đổ, hư hao trên người và vật. Thì cái đó được gọi là hại tư duy. Lìa bỏ hại tư duy được gọi là Bất hại tư duy.

Ly dục tư duy, Vô sân tư duy và Bất hại tư duy cộng lại được gọi là Chánh tư duy.

https://toaikhanh.com/read.php?doc=202002230247&lan=vn

3. Katamā ca, bhikkhave, sammāvācā? Yā kho, bhikkhave, musāvādā veramaṇī, pisuṇāya vācāya veramaṇī, pharusāya vācāya veramaṇī, samphappalāpā veramaṇī – ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāvācā.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh ngữ? Này các Tỷ-kheo, chính là từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh ngữ.

4. Katamo ca, bhikkhave, sammākammanto? Yā kho, bhikkhave, pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, abrahmacariyā veramaṇī – ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammākammanto.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh nghiệp? Này các Tỷ-kheo, chính là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ phi Phạm hạnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh nghiệp.

5. Katamo ca, bhikkhave, sammāājīvo? Idha, bhikkhave, ariyasāvako micchāājīvaṃ pahāya sammāājīvena jīvitaṃ kappeti – ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāājīvo.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh mạng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đoạn trừ tà mạng, nuôi sống với chánh mạng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh mạng.

6. Katamo ca, bhikkhave, sammāvāyāmo? Idha, bhikkhave, bhikkhu anuppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ anuppādāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati,

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tinh tấn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm;

uppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati,

với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm;

anuppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ uppādāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati,

với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay được sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm;

uppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati – ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāvāyāmo.

với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có lu mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tinh tấn.

===

Chánh tinh tấn là cái gì? Chánh tinh tấn là nỗ lực đúng chỗ, biến từng phút trong đời trở thành ra là những phút giây giá trị. Một tháng một năm trôi qua là một tháng một năm có giá trị vì một tháng một năm ấy có nỗ lực.

Nỗ lực trong hai điều, bỏ đi cái ác và vun bồi cái thiện. Tứ chánh cần gôm gọn còn có hai điều đó thôi: Nỗ lực bỏ cái gì không cần thiết và vun bồi cái cần thiết. Đó gọi là chánh tinh tấn. Người cư sĩ đương nhiên là cái sự nỗ lực tinh tấn nó không giống người xuất gia. Người xuất gia thì tùy cái hạnh nguyện. Có vị thì tinh tấn để gầy dựng đạo tràng, làm trụ trì, có vị trở thành một thiền sư, có vị trở thành một pháp sư, giảng sư, v.v. Nhưng mà nói chung lại tất cả mọi nỗ lực trong Phật Pháp đều phải nhắm đến hai cái tinh thần: một là tự lợi, đem lại lợi ích cho mình đời này và đời sau; thứ hai là lợi tha, có nghĩa là bất cứ một xuất sử nào của tam nghiệp đều phải có thêm ý nghĩa thứ hai nó mới thật sự là trọn vẹn. Đó là anh làm cái gì lúc nào cũng phải tính đến thiên hạ.

https://toaikhanh.com/read.php?doc=202002201018&lan=vn

Katamā ca, bhikkhave, sammāsati? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ;

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, với mục đích điều phục tham ưu ở đời;

vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ;

Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời;

citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ;

Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời;

dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ – ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsati.

Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh niệm.

===

Katamo ca, bhikkhave, sammāsamādhi? Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh định? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.

Vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.

Làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tỉnh, nhất tâm.

Pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti – ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.

Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba.

Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati – ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsamādhī’’ti.

Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh định.

===

Định có nhiều cấp:

1. Định của người đắc Sơ thiền, Nhị thiền trở lên là kiên cố Định.

2. Cận Định là Định của người xém đắc. Chỉ còn tí nữa là đắc Sơ, Nhị, Tam, Tứ thiền. Thì cái thiền dẫn nhập đó, thiền thềm ba, thiền mái hiên đó, khả năng đó gọi là Cận, là gần, là Upacāra.

Cận định và Kiên cố định bắt buộc phải có ở người có tu tập thiền định chứ không thể có ở người bình thường.

3. Sát na Định là khả năng tập trung trong tích tắc. Thí dụ như mình đang chạy xe đạp cũng phải có một chút Định trong đó. Khi mình lặt rau, bắt chí, may vá cũng phải có một chút Định trong đó. Định đó là Khanika samādhi là Định tạm thời, Định trong từng khoảnh khắc. Đừng có chê nó. Đúng, nó không bằng 2 Định kia; nhưng nó chính là cái Định mà mình dùng để tu tập Tứ niệm xứ.

Đang đi biết là đang đi, đó là Niệm, nhưng Niệm ở đây nó phải được hỗ trợ từ Định. Định và Niệm không có rời nhau. Cho nên ở trong kinh ghi rất rõ. Từ Thanh tịnh đạo cho đến bộ Vô ngại giải đều nhìn nhận: Muốn đắc đạo thì phải gọi là Pañcindriya samatha, là sự quân bình, sự thăng bằng, sự cân đối của 5 Quyền gồm có Tín Tấn Niệm Định Tuệ.

https://www.toaikhanh.com/read.php?doc=201912270202&lan=vn

Nguồn: fb Kien Cao-Xuan

-

 


Tại sao tôi chịu khó tôi kể kỹ chuyện của Ngài Ca-diếp? Bởi vì không có Ngài là tụi mình bây giờ là đi hốt rác hết rồi!

Nói đến Ngài MahàKassapa (Maha Ca-Diếp) thì có cái chuyện đặc biệt phải kể.

Cách đây 100 ngàn đại kiếp thì Ngài là một người cư sĩ, thỉnh Đức Phật Padumuttara và Chư Tăng về nhà cúng dường. Thì hôm đó khi Đức Phật và Chư Tăng đang ngồi trong nhà ông thì ông thấy có một Tỳ-kheo ôm bát đi ngoài đường. Ông mới cho người chạy ra thỉnh Ngài vào luôn. Ngài này tướng hảo quang minh, chói ngời mô phạm, đạo cốt tiên phong, đẹp lắm! Nhưng mà khi ra mời thì Ngài từ chối, Ngài nói là:

- Ta chỉ nhận thức ăn trong bát, chứ ta không có vào ngồi ăn bên trong nhà như vậy.

Ông này nghe như vậy thì ông để bát. Xong rồi là Ngài đi. Ông cư sĩ này mới vô hỏi Đức Phật vì sao mà có chuyện đó. Vì sao vị đó không chịu vào đây ngồi dùng chung với Thế Tôn và Chư Tăng mà lại đi kiểu đó? Trong Chú Giải nói rằng Đức Phật lúc đó Ngài cố ý. Cái chuyện vị kia và cả Đức Phật lúc đó đều là do sự sắp đặt hết! Ngài cố ý cho ông thấy vì Ngài biết cái ông cư sĩ này sẽ mê cái hình ảnh đó. Chứ còn cả Đức Phật lẫn cái vị kia đều A-la-hán hết, có ai mà muốn ăn uống gì ba cái vụ kính bái của người ta đâu! Nhưng mà tại vì muốn giúp ông này.

Đức Phật Padumuttara Ngài mới giải thích thế này:

- Như Lai và Chúng Tỳ-kheo thì có thể dùng ngọ ở trong mái che hay ăn trong bát ở ngoài rừng, ngoài bụi cũng được, tùy duyên. Nhưng riêng những vị hạnh đầu đà như vị đó thì người ta chỉ có ăn trong bình bát thôi, đói no, ngon dở, nóng lạnh, hẩm hiu, thì có bao nhiêu đó thôi!

Rồi Ngài mới liên tục Ngài nói Như Lai và Chúng Tỳ-kheo có thể ở trong nhà có mái che, có lợp, có lót, có vách, có phênh, có cửa, có nẻo đàng hoàng, nhưng những Tỳ-kheo như ngươi mới thấy đó, là chỉ có ngoài rừng, ngoài bụi, hang động, gốc cây mà thôi. Như Lai và Chúng Tỳ-kheo, ai may Y sẵn cúng thì nhận cũng được nhưng mà vị Tỳ-kheo hồi nãy thì không, phải tự mình đi lượm. Rồi Ngài nói một hơi về 13 Pháp Đầu Đà.

Ông cư sĩ này ông nghe ông mê quá mê. Từ cái khuynh hướng tâm lý mà ông hết cái để mê, ông lại đi mê cái kiểu tu mà "đoạn trường tân thanh" như vậy mới mệt chứ! Ông cúng dường xong, ông nguyện:

- Mai mốt đời sau con nguyện trở thành một vị Tỳ-kheo giống y chang như vậy trong đời tương lai.

Thế là sau nhiều kiếp luân hồi, thì Ngài đi qua kiếp này kiếp kia, lúc siêu, lúc đọa. Có cái vụ này mới quan trọng: Qua nhiều kiếp luân hồi, lúc siêu, lúc đọa, cũng làm chó heo mèo vịt, làm trùn, làm dế, rồi tùm lum hết, rồi cuối cùng trở lên làm người, đại khái vậy.

Sẵn đây chúng tôi nói luôn là Bồ Tát Chánh Đẳng Giác, sau khi được thọ ký thì dầu có sa đọa cũng không sanh làm loài nào nhỏ hơn cái nắm tay. Thinh Văn thì bất định nhưng riêng Bồ Tát Chánh Đẳng Chánh Giác thì sau khi mà được thọ ký dầu có sa đọa cũng không có sanh làm loài nào mà nhỏ hơn cái nắm tay. Độ lớn thì không giới hạn, nhưng mà nhỏ thì không nhỏ dưới cái nắm tay. Vì sao? Vì do cái phước ba-la-mật nâng đỡ. Khi làm cái loài nhỏ quá, cái não trạng của nó có vấn đề. Thí dụ như làm con tôm, con nghêu sò ốc hến, làm con ruồi, con muỗi, .... mang tiếng là chúng sanh mà cái đầu của nó như cục đất vậy đó! Thì do cái phước của Ngài nâng đỡ, dầu có bị đọa cũng không có làm cái loài mà trong Kinh kêu là muội lược như vậy. Do cái phước ba-la-mật nó nâng đỡ. Người có phước ba-la-mật nâng đỡ dầu có bị đọa cũng khác người ta một chút. Phải nhớ ở chỗ này. Cũng giống như người đẹp, dầu có lấm lem lọt xuống hầm phân thì cũng là đẹp.

Trúc xinh trúc mọc đầu đình,

Em xinh em đứng dưới sình cũng xinh!

Thì ở đây có kiếp Ngài làm con này, kiếp làm con kia, mãi cho đến đời Phật Vipassì (Phật Tỳ-ba-thi). Nhắc lại, vị Phật đầu tiên Ngài gặp để nguyện là Phật Padumuttara, vị này là cách nay 100 ngàn đại kiếp. Tất cả Đại Thinh Văn của Thế Tôn đều được vị này thọ ký. Vì sao vị này phải có mặt cách Đức Phật mình tới 100 ngàn đại kiếp? Vì cái thời gian đó là thời gian bắt buộc để cho tất cả những vị Đại Thanh Văn đệ nhất này, đệ nhất kia, họ có đủ thời gian để họ nguyện. Sau khi Ngài Ca-diếp Ngài gặp Phật này xong rồi luân hồi không biết bao nhiêu kiếp, cho đến đời Phật Tỳ-bà-thi (Vipassì) cách đây là 91 đại kiếp thì Ngài Ca-diếp lúc đó Ngài sanh làm một ông Bà-la-môn nghèo. Nghèo coi như là không có cục đất chọi chim, không có miếng đất cắm dùi. Nghèo lắm. Hai vợ chồng chỉ có một miếng vải choàng thôi. Ở dưới thì lấy bắt chước như Trần Minh khố chuối, quấn tầm bậy tầm bạ. Nhưng phần trên khi đi ra ngoài muốn có mặt mũi với người ta, thì hai vợ chồng có cái áo choàng thôi. Lúc đó thiên hạ thái bình, chúng sanh an cư lạc nghiệp, ngủ không cần đóng cửa, của rơi ngoài đường không ai lượm. Chúng sanh sống đúng như là nằm trâu thổi sáo, mơ đời Thuấn Nghêu, cái thời an bình vậy đó!

Tuy thái bình thịnh trị nhưng mà theo thông lệ xã hội thì đàn ông đi đêm ok còn đàn bà đi đêm thì nó hơi kỳ. Đàn bà con gái con lứa mà đêm hôm lầm lầm lũi lũi thui thủi bước đi trên đường hoang vắng thì cũng kỳ. Cho nên lúc đó những phật tử đi nghe Pháp ban đêm thường là nam. Còn ban ngày thì nữ muốn đi thì đi. Sở dĩ tôi phải dài dòng như vậy để cho bà con đừng có thấy lạ. Ngài Ca-diếp kiếp này sanh vào làm một ông Bà-la-môn nghèo lắm, mà hai vợ chồng chỉ có cái áo choàng thôi,

Trong cái kiếp này Ngài nghèo lắm mà Ngài đi nghe Pháp thì Ngài thích quá. Ngài mới suy nghĩ hoài: "Thiệt tình thấy người ta cúng dường ham quá. Mình thì gia tài có mỗi cái khăn này. Mình đàn ông con trai mình không có choàng thì không sao, chứ còn bà xã của mình sao? Bây giờ cúng dường cái khăn thì khi bả đi chùa bả không có cái gì quấn coi sao được?"

Ngài cứ do dự do dự mãi cho đến nửa đêm thì Ngài quyết định cắn răng Ngài cúng. Ngài càng nhìn Phật là Ngài càng thương càng quý nên Ngài cúng cho Phật. Ngài thấy tắm khăn choàng của mình cũ quá, Ngài không biết Phật có thề dùng nó cho việc gì nên Ngài xếp và để phía trước chỗ Phật ngồi để Phật lau chân. Chỉ vậy thôi!

Trong Kinh nói ông vua đệ tử ruột của Đức Phật, cỡ như ông Cấp-cô-độc vậy đó, đêm đó ông đi nghe Pháp. Ổng nhìn thấy cái miếng vải chùi chân phía trước Đức Phật nó sáng chói lòa! Ông mới ngạc nhiên lắm:

- Bạch Thế Tôn, cái miếng vải này bằng cái chất liệu gì mà đặc biệt quá?

Đức Phật Ngài dạy rằng:

- Bình thường thôi, không có gì đặc biệt hết Đại vương à. Nó chói lòa là vì cái tín tâm của cái người cúng dường đó thôi!

Thì ông vua nghe ông lạ lắm:

- Bạch Thế Tôn, chúng con cũng cúng dường, cũng tín tâm thuần cốt, chúng con cũng thương Phật, quý Phật, kính Phật, trọng Tăng, mà tại sao không có được cái hiện tượng này?

Đức Phật nói:

- Các ngươi cúng dường nhiều thiệt, nhưng mà tính ra cái ông này Đạo Tâm của ông nó thuần cốt, nó đặc biệt lắm. Có thể nó đặc biệt hơn. Gia tài người ta chỉ có một cái mà người ta đã hy hiến trọn vẹn không giữ lại!

Ông vua nghe như vậy ông thương quá, ông mới đem cúng, ông đem tặng lại cho ông này những miếng vải choàng mà trị giá hàng ngàn đồng vàng. Thì ông nhà nghèo này mới suy nghĩ: Tại sao mình nghèo? Là tại vì mình không có bố thí. Bây giờ gia tài mình có một tấm để choàng mà mình cũng cúng làm phước. Bây giờ lại có được nhiều, thì tại sao mình không làm phước tiếp? Ông mới bèn đem cúng tiếp cho Phật. Vua cho bao nhiêu ông đem cúng hết cho Phật chỉ giữ lại 2 cái cho ông với vợ ông thôi! Chưa hết. Cái tích nó dài dữ lắm. Rồi hết cái kiếp đó ông về trời, rồi ông lọt xuống. Cũng đọa nữa! Đi vòng vòng vòng vòng làm vua, làm tướng, ăn mày, ăn cướp, thầy chùa, du đãng, đủ thứ, rồi trùn dế cào cào, trâu heo chó ngựa, đi vòng vòng vòng vòng. Đã gọi là luân hồi mà. Quý vị biết cái đó mới thấy xanh mặt!

Cuối cùng trong vòng luân hồi, trong đây tôi kể vắn tắt là nhiều kiếp và rất nhiều kiếp, Ngài Ca-diếp có duyên đặc biệt với các Đức Phật Độc Giác. Tức là những lần mà không có gặp Chánh Đẳng Chánh Giác, thì Ngài cứ gặp Đức Phật Độc Giác rất là thường. Độc Giác nghĩa là tự ngộ mà không có đệ tử. Mà vì sao ông hay gặp họ? Vì cái tâm! Cái tâm mình lành nên hễ trên đời có Hiền Thánh là mình có cơ hội gặp.

Khi ta có tâm lành thì tự nhiên không có Chánh Đẳng Chánh Giác thì cũng gặp được Độc Giác, mà không có Độc Giác cũng gặp Đạo Sĩ chân tu. Còn người không có lòng cầu Hiền, thì 8 ngàn vị A-la-hán có đứng trước mặt mình cũng như đui mù không thấy được. Người có lòng cầu Hiền, cầu Thánh thì trên đời này hễ có Thánh, có Hiền là tự dưng, một là Thánh Hiền họ sẽ thấy căn cơ của mình họ tới họ cho mình gặp. Còn hai nữa duyên cũng đẩy đưa để cho mình tới mình gặp mấy vị đó. Cái chỗ này nó vô cùng và vô cùng quan trọng. Rất là quan trọng. Có được cái lòng cầu Hiền không phải dễ đâu.

Có một người con gái kiếp xưa cách đây 100 ngàn đại kiếp, khi nàng nghe Ngài Ca-diếp được thọ ký sau này thành đệ nhất đầu đà nàng đem lòng thương quý và từ đó hễ có dịp luân hồi là họ gặp nhau, là sáp vô nhau; có lúc làm bạn, có lúc làm chị em, có lúc làm vợ chồng, có lúc làm mẹ con, mà cứ như vậy suốt mùa thu sanh tử. Đến cái kiếp cuối cùng thì chàng và nàng đều sanh về cõi Phạm Thiên. Rồi từ Phạm Thiên do duyên lành thúc đẩy cả hai đều sanh xuống cõi người, và gặp được Giáo Pháp, xuất gia, đắc La-hán hết.

Chuyện đời của Ngài Ca-diếp dài lắm. Khi trên Phạm Thiên Ngài xuống thì vì Ngài ở trên đó lâu quá cho nên cái lòng của Ngài ly dục. Ngài gặp nữ sắc Ngài không có cảm giác. Ăn ngon mặc đẹp cũng kông có cảm giác. Nói chung là 5 dục đã không có cảm giác mà còn thấy ớn, thấy mệt. Gia đình Ngài là đại thế gia, trang trại rộng đến mức không thể đi bộ mà chỉ có thể cỡi ngựa phóng ào ào để coi người ta làm sao rồi quay trở về, gác chân lên nằm nghỉ ngơi, không có đi tà tà được vì rộng lắm!

Một bữa trưa Ngài thấy nắng chang chang mà sao thấy mấy con trùn nó nóng quá nó chun lên mặt đất, nó bò quằn bò quại, rồi kiến bu, rồi mấy con chim tới mổ ăn, con chim lớn rượt con chim nhỏ, ... Tất cả những hình ảnh đó, trời thì nắng chang chang, mồ hôi nhễ nhại, rồi gặp sâu bọ giòi trùn dế chim chóc rượt nhau, rồi tiếng người làm công kêu gọi nhau ơi ới, cả một không gian âm thanh ánh sáng hỗn độn mà mõi mệt, khiến cho Ngài chạnh lòng. Ngài nghĩ: "Trời đất! Nếu mà quả thật cuộc sanh tử này chỉ có chừng này thôi, thì cuộc đời này có gì đáng sống nữa hả trời! Mình là đại gia phú hào mà mình thấy còn mệt mõi, thì huống gì những người khố rách áo ôm, giật gấu vá vai, không đủ ăn, không đủ mặc thì họ còn khổ cỡ nào nữa!" Ngài nghĩ như vậy, Ngài ngán quá! Ngài mới trở về gác tay lên trán nằm trằn trọc thao thức không yên. Gia đình mới ra hỏi Ngài: "Bây giờ con lớn con lấy vợ đi chứ!" Ngài nói "Con không muốn." Gia đình ép, khóc, năn nỉ. Cuối cùng Ngài bèn cho thợ đúc một bức tượng vàng do chính Ngài vẽ kiểu, với những nét đẹp thiên kiều bá mị, lộng lẫy kiêu sa, mà Ngài nghĩ rằng trên đời này không thể nào mà có người con gái nào đẹp hơn vậy. Xưa nay đẹp cỡ đó là bất khả. Gọi là đẹp như mơ, xinh như mộng, đẹp như tiên. Ba cái - mơ, mộng và tiên - thì mấy cái này làm gì có trong cái nhận thức nhân gian.

Nhưng mà người ta không ngờ rằng gia đình cho người cầm bức tượng đó đi vòng vòng thiên hạ. Cuối cùng đã tìm ra một người con gái đẹp y chang như cái bức tượng vàng đó, mà dĩ nhiên là còn đẹp hơn nữa: đường nét thì giống, nhưng mà màu da ngon lành hơn. Mà lạ lắm. Do duyên xưa nó thúc giục nên người con gái đó chính là cái người hồng nhan tri kỷ mà đã đi theo Ngài suốt 100 ngàn đại kiếp. Khi nghe nói tới thanh niên Pipphali thì tự nhiên nàng chạnh lòng xúc động. Trước đó nàng gặp đàn ông thì chỉ là coi như phường phàm phu không đáng cho sờ vạt áo. Vậy mà hôm đó chỉ nghe nói đến tên Pipphali, nàng có một chút xao động - cái thuở ban đầu lưu luyến ấy.

Trên đường đi về nhà chồng, nàng âm thầm viết một lá thư gửi cho Ngài, nàng nói thế này: "Túc hạ nhã giám. Duyên bèo nước tương phùng gặp nhau trở thành nghĩa tào khang. Không biết mặt nhau mà bây giờ lại về sống với nhau. Nhưng nói thiệt, lòng của thiếp chỉ muốn buông bỏ hết mọi sự. Còn đi đâu về đâu thì chưa biết. Nhưng còn chuyện mà sống kiểu nhi nữ tình trường thì ôi thôi nó ngán ngẫm quá. Nếu mà Ngài có lòng thương thì cưới nhau cho hai họ vui vẻ rồi mỗi đứa về ngủ một giường. Sau đó Ngài muốn lấy thê lấy thiếp bao nhiêu em cũng không có ý kiến!"

Nhưng không ngờ cái lá thư đó chưa kịp đi thì nàng bèn nhận một lá nội dung y chang như vậy: "Tiểu thư nhã giám. Tại hạ là vốn dĩ không mê cái đường tình ái lăng nhăng. Chẳng qua vì vui lòng cha mẹ, cho nên tại hạ mới lấy vợ. Nhưng mà lấy nhau rồi, về làm ơn cho em ngủ riêng một mình."

Hai lá thư đó chạm nhau trên đường và cả hai người đã nhận lá thư cùng một lúc. Họ vui lắm! Thế là tri kỷ đã gặp tri âm rồi. Đêm động phòng hai người để một cái chuỗi hoa tươi nằm giữa và dặn rằng chuỗi hoa này là biên giới, là chủ quyền biển đảo được xác định ngay trên cái chuỗi hoa này. Sáng mai hoa héo phía nào là phía đó dở. Cứ như vậy mà cái chuỗi hoa để giữa không bị héo. Và cứ vậy, tân lang tân nương sống với nhau được mấy hôm thì cuối cùng họ bàn với nhau thế này: Sống mà kiểu này nó mệt quá! Đi tu cho rồi!

Họ mới mặc áo nâu sòng rời nhà ra đi. Trong Kinh nói Ngài Ca-diếp có 7 tướng đại nhân. Ngài Rahula thì có 32, còn riêng Ngài Ca-diếp có 7 tướng. Ông Bà-la-môn Bàvari có 3 tướng. Một lúc nào đó mình sẽ học tới mấy cái đó: tướng lưỡi dài rộng, tướng duỗi thẳng tay rờ gối, tướng mã âm tàng, đại khái có tất cả là 7 tướng. Thì Ngài đẹp lắm! Mà bà cũng đẹp lộng lẫy. Trên đường đi tuy hai người ăn mặc áo tu mà người ta cứ xì xào: "Trời đất ơi! Có lộn không? Đẹp như vầy, trẻ như vầy, mà tại sao bỏ hết đi tu vậy trời?" Khi Ngài nghe như vậy Ngài thấy không xong, hai người mới bàn với nhau, rồi chia tay, ai gặp Đạo Giải Thoát trước thì sẽ về tìm cái người còn lại! Thì khi hai vị chia tay nhau ngay chỗ ngã ba với một lời dặn dò giống như là Ngài Mục-kiền-liên Ngài dặn Ngài Xá-lợi-phất vậy: "Thôi thì mỗi người đi một hướng, ai tìm được Đạo Giải Thoát trước thì trở về tìm người kia."

Khi hai vợ chồng Ngài Ca-diếp chia tay nhau thì cái Đại Địa này nó rung động, nó cảm kính, gọi là chiêu cảm. Cả trái đất rung động. Thì lúc đó Đức Thế Tôn ở trong Chùa Trúc Lâm Veluvana, Ngài bằng thiên nhĩ Ngài nghe được cái sự dao động trong lòng đất. Ngài nghe cái địa chấn như vậy, Ngài mới suy nghĩ nhanh liền: Vì sao có chuyện này? Ngài biết đó là cuộc chia tay của hai bậc gọi là Đại Sĩ.

Thế là Đức Thế Tôn lập tức có mặt ở chỗ ven rừng mà Ngài Ca-diếp sắp sửa đang hướng tới. Ngài Ca-diếp vừa đến ven rừng thì Ngài nhìn thấy có một nhân vật 32 hảo tướng, 6 màu hào quang chói lòa, đang ngồi ở đó. Ngài chưa gặp Phật bao giờ, chưa hề nghe gì về Phật bao giờ, vừa nhìn thấy là Ngài đến Ngài quỳ xuống và lấy cái trán dập xuống dưới chân Thế Tôn và có một câu lễ bái như thế này:

- Thế Tôn là Đạo Sư của con và con là đệ tử của Thế Tôn.

Tại sao tôi chịu khó tôi kể kỹ chuyện của Ngài Ca-diếp? Bởi vì không có Ngài là tụi mình bây giờ là đi hốt rác hết rồi! Bởi vì Ngài là cái người tổ chức kiết tập Phật Ngôn lần thứ nhất. Chính Ngài là người đã san định lại cơ đồ hồng phù đại lược của Phật Giáo!

Chuyện Ngài Ca-diếp có liên quan đến một chuyện mà Phật tử Việt Nam bắt buộc phải biết. Tôi đã nói nhiều về cái chuyện Đại hiếu Mục-liên. Đó là một sự tráo đổi giữa Ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên; giữa Nam Tông và Bắc truyền.

Bữa nay tôi kể cái chuyện Ngài Ca-diếp được gọi là phó chúc, được gọi là trao cho Chánh Pháp nhãn Tạng như thế nào trong Kinh Điển Nam Tông. Thì nó như thế này. Trước cái ngày mà Thế Tôn gặp Ngài Ca-diếp, Thế Tôn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài xét thấy rằng Chư Phật ba đời đều có tối thiểu một lần đi lượm vải cũ, vải dơ, để về tự tay mình giặt rồi làm Lá Y để mặc. Ngài xét thấy Chư Phật ba đời đều có một lần như vậy. Nên hôm đó đích thân Ngài vào trong rừng, chỗ người ta liệng xác người chết. Ngài thấy có một cái xác của một cô đầy tớ gái - cô nữ tỳ- chết rồi. Người nhà mới lấy miếng vải trắng quấn xác đem vô liệng trong rừng. Đích thân Thế Tôn Ngài lấy cái miếng vải đó Ngài ra suối Ngài giặt. Trong Kinh nói khi Thế Tôn Ngài ra suối Ngài giặt như vậy đó, nhiều cái chuyện đặc biệt nó đã xảy ra. Tôi kể ra đây bà con nói phong thần tôi dẹp luôn khỏi kể! Tôi chỉ kể rằng khi mà Ngài ra suối giặt vải như vậy thì Đại Địa chấn động 9 lần! Rồi Ngài về Ngài mới đưa cho Ngài Anan nhuộm, cắt, may thành Lá Y để Ngài mặc. Ngài mặc Y đó trong cái bữa Ngài gặp Ngài Ca-diếp

Khi gặp Ngài Ca-diếp, Đức Phật Ngài có khen thế này:

- Lá Y của Ca-diếp đẹp quá!

Không đẹp sao được? Ngài Ca-diếp là đại gia, đi tu nhưng cũng mặc toàn là silk, khăn choàng cũng là Hermes, LV, chứ đâu có xài cái đồ mà tào lao như mình.

Ngài Ca-diếp Ngài mới nói:

- Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn vì lòng đại bi mà đổi Y với con, con sẽ mặc Y của Thế Tôn và Thế Tôn sẽ mặc Y của con.

Thì Đức Phật mới dạy thế này:

- Ca-diếp có biết rằng Lá Y của Như Lai đang mặc này không có ai cũng mặc được. Đây là cái Lá Y mà do chính Ta đã nhặt vải về, rồi để Anan may nhuộm cho Như Lai, nhưng mà Ca-diếp thì được!

Ngài nói như vậy là bắt đầu hai Thầy Trò có cuộc trao đổi Y. Mà tại sao có cuôc trao đổi kỳ lạ như vậy? Vì Ngài biết cái người trước mặt Ngài là ai. Ngài biết đây sẽ là Đệ Nhất Tôn Giả Đầu Đà. Là vị sẽ cầm cái lá cờ Ly Dục Tôn của Chư Phật ba đời mười phương.

Cho nên mới có cái chuyện đổi Y đó. Chứ không phải là trao truyền y bát, phó chúc Chánh Pháp nhãn Tạng như Bắc tông nói đâu. Lịch sử thiền tông họ kể nghe thơ mộng, nhưng mà không phải vậy. Chuyện ở đây là như vậy đó! Chuyện cái vị kế thừa tinh thần Ly Dục Tôn.

Trích bài giảng Kinh Tăng Chi số 007

Kalama xin tri ân bạn sumanaduong ghi chép

-
- -


 

Người Phật tử Việt Nam xưa nay thường biết đến khái niệm Tịnh độ qua các kinh nói về Phật Di Đà (Amitābhasutra và Sukhavativyūhasutra) từ Hán tạng, vốn được phiên dịch từ kinh điển Sanskrit. Ở đó, cõi Tịnh độ hay Cực lạc (Phạn ngữ Sukhavatì) được mô tả là cảnh giới tuyệt vời với tất cả những sự thù thắng, trang nghiêm.

Con đường dẫn đến cõi này có thể chỉ gói gọn trong công phu trì niệm hồng danh Phật Di Đà. Ngoài sự thanh tịnh có được từ việc nhất tâm niệm Phật Di Đà, oai lực của Ngài cũng thừa sức tiếp dẫn vong linh người niệm Phật vãng sinh về thế giới Tịnh độ để họ tiếp tục tu hành trong điều kiện thuận lợi hơn xưa gấp triệu lần. Cõi ấy giữa người với người không hề biết tương tranh, thù hận vì ở đó không có chuyện chiếm hữu lợi danh như ở cõi Ta bà nhiều kiếp nạn này.

Nhưng đó là theo kinh điển Hán tạng, nguồn giáo lý chủ đạo của Phật giáo Bắc truyền. Trong bài viết này ta thử tìm hiểu vấn đề qua kinh điển Pāli, nguồn giáo lý căn bản của Phật giáo Nam truyền. Dĩ nhiên, trong Tam tạng Pāli cũng có khái niệm Tịnh độ (nếu ta muốn gọi thế) với những trình bày thật rõ ràng về cảnh giới này, những cư dân ở đó và con đường dẫn đến cảnh giới Tịnh độ, tức phép cầu vãng sanh theo kinh điển Nam truyền.

CÕI TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PĀLI

Trước hết, cõi Tịnh độ được biết đến trong kinh điển Pāli qua danh từ Suddhāvāsa, còn được dịch là Tịnh cư, theo lối chiết tự Suddha (thanh tịnh) và Āvāsa (chỗ ở). Vậy Suddhāvāsā cũng có thể được dịch là Tịnh độ, Tịnh thổ. Thậm chí chữ Pāli này còn gần gũi với chữ Tịnh độ, Tịnh thổ hơn là Sukhavati (chốn An lạc), một chữ chỉ có thể xem là tương đương với từ Sugati (Lạc cảnh, Thiện thú) trong kinh điển Pāli, chỉ chung cho các cõi nhân thiên.

Theo các chú sớ A Tỳ Đàm, có tất cả 5 cõi Tịnh độ, nằm trong 16 cõi Phạm thiên Hữu sắc, và là chỗ tái sanh của các bậc Thinh văn Bất lai hay còn gọi là A na hàm (Anāgāmi người không còn trở lại các cõi dục giới). Tuy cảnh giới này chỉ gồm toàn các vị Bất lai và A-la-hán (chứng A-la-hán sau khi sanh về đây), nhưng trên căn bản vì vẫn là cõi Hữu sắc nên ở 5 cõi Tịnh độ này vẫn có những lâu đài, hoa viên rất trang nghiêm, dĩ nhiên không phải là nơi chốn hưởng thụ, mà đó chỉ là những dấu vết tối thiểu của một cõi Ngũ uẩn (1). Về tuổi thọ, chư Thánh Bất lai ở cõi thấp nhất trong 5 cõi Tịnh độ là cõi Vô phiền (Avihā) có thọ mạng 1.000 đại kiếp, kế đến là cõi Vô nhiệt (Ātappā) có thọ mạng 2.000 đại kiếp, cõi thứ ba là Thiện hiện (Sudassā) có thọ mạng 4.000 đại kiếp, cõi thứ tư là Thiện kiến (Sudassì) có thọ mạng 8.000 đại kiếp và cõi Sắc cứu cánh (Akanittha) có thọ mạng 16.000 đại kiếp.

Do có những lúc trải qua một thời gian dài không có chư Phật ra đời độ sinh nên dân số trên 5 cõi Tịnh độ chỉ có giảm mà không được bổ sung, do vậy cũng có những thời điểm 5 cõi này không tiếp tục tồn tại.

CƯ DÂN TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PĀLI

Trước tiên là trình bày đại lược về 4 tầng Thánh trí làm nên 4 bậc Thánh nhân và chính Đức Phật cũng được kể vào đó. Sơ quả hay Tu đà hoàn (Sotāpatti, Dự lưu), còn được gọi là Thất lai, người không thể tái sanh quá 7 lần, là vị đã chấm dứt hoàn toàn 3 thứ phiền não thân kiến ( nôm na là chấp kiến trong 5 uẩn), hoài nghi (nghi ngờ về Phật pháp nói chung) và giới cấm thủ (chấp trước các tín điều mù quáng). Ở một số vị, thánh trí Sơ quả chỉ là một giai đoạn thoáng qua trước khi hoàn tất các tầng thánh trí cao hơn. Như trường hợp Đức Phật hoặc các vị Thanh văn tốc chứng. Nhưng cũng có lúc giai đoạn này kéo dài trong nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều năm hoặc vài kiếp sống (dĩ nhiên không quá 7 kiếp). Sớ giải Trường Bộ ghi rằng Thiên vương Đế Thích hiện nay là một vị Thánh Sơ quả. Khi hết tuổi thọ, ngài sẽ sinh xuống nhân gian làm Chuyển luân vương và chứng đắc Nhị quả Tư đà hàm. Sau đó sanh lên Đao Lợi thiên chứng Tam quả A na hàm và lần lượt tái sanh ở đủ 5 cõi Tịnh độ, bắt đầu là cõi Vô phiền, cuối cùng ngài sẽ chứng quả A-la-hán và nhập diệt ở cõi Sắc cứu cánh.

Tầng Thánh trí thứ hai là Nhị quả Tư đà hàm. Ngoài 3 phiền não đã chấm dứt ở tầng thánh trước, quả vị này còn làm giảm nhẹ dục ái và sân hận. Do chỉ còn có thể tái sanh cõi Dục giới một lần nữa thôi, nên quả vị này còn được gọi là Nhất lai (Sakadāgāmī).

Tầng Thánh thứ ba là Tam quả A na hàm (Anāgāmi), nghĩa là bậc Bất lai, người không còn trở lui các cõi dục giới nữa (có tất cả 11 cõi Dục giới). Theo A Tỳ Đàm tạng Pàli thì do đã chấm dứt dục ái (niềm tham luyến trong ngũ trần) và sân hận nên vị Thánh Tam quả trong trường hợp không thể chứng A-la-hán rồi nhập diệt ngay đời này thì có hai con đường để đi:

Nếu đã chứng đắc Ngũ thiền thì sẽ tùy theo khả năng mạnh yếu của Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ mà sanh về một trong năm cõi Tịnh độ. Tín nổi trội thì sanh về cõi Vô phiền, Tấn hùng hậu thì về cõi Vô nhiệt, Niệm hùng hậu về cõi Thiện hiện, Định hùng hậu thì về cõi Thiện kiến, Tuệ thâm hậu thì sanh về cõi Sắc cứu cánh (Pāli gọi là Akanittha, Không thứ gì yếu kém). Ở cõi Tịnh độ thứ năm này toàn bộ Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ đều được sung mãn; vì đây là nơi chốn sau cùng để một vị Bất lai chứng quả A-la-hán và nhập diệt.

Trong trường hợp vị Thánh Bất lai chưa chứng qua một tầng thiền định nào, tức chỉ có trí tuệ Thiền quán (Vipassanā) mà không từng tu tập Thiền chỉ (Samātha) thì lúc mạng chung, vị này do khả năng ly dục vô sân tuyệt đối nên tối thiểu cũng thành tựu Sơ thiền trước khi mạng chung ở cõi Dục giới và như vậy cũng đủ để sanh về cõi Phạm thiên thấp nhất là Phạm thiên Sơ thiền.

Do túc duyên và trình độ tu chứng có khác nhau nên giữa các bậc Thánh Tam quả cũng có vài sai biệt. Theo Manorathapurani, Chú sớ Tăng Chi Bộ (phần Tika):

– Antarāparinibbāyī (Tiền bán Niết bàn): Vị Bất lai chứng A-la-hán khi chưa sống hết phân nửa thọ mạng ở cõi Tịnh độ nào đó trong 5 cõi.

– Upahaccaparinibbāyī (Hậu bán Niết bàn): Chứng A-la-hán sau khi sống hơn nửa thọ mạng ở cõi Tịnh độ nào đó.

– Uddhamsoto Akanitthagāmī (Luân lưu Niết bàn): Do căn tánh không xuất sắc, có vị Bất lai phải lần lượt sanh đủ 5 cõi Tịnh độ mới chứng quả A-la-hán rồi nhập diệt ở cõi Tịnh độ cao nhất.

– Asankhāraparinibbāyī (Bất lao Niết bàn): Vị Bất lai có thể chứng A-la-hán mà không cần nhiều cố gắng.

– Sasankhāraparinibbāyī (Cần lao Niết bàn): Vị Bất lai phải nhiều nỗ lực mới có thể chứng A-la-hán.

Tầng Thánh trí thứ tư chính là quả vị A-la-hán, người chấm dứt toàn bộ phiền não. Theo A Tỳ Đàm Pàli thì có 3 quả vị A-la-hán: Chư Phật Chánh Đẳng Giác (Sammāsambuddha hay Sabbannubuddha- Toàn Giác) cũng là những vị A-la-hán nhưng do tự mình chứng đắc và là đạo sư hướng dẫn cho những người hữu duyên chứng đắc A-la-hán. Những vị A-la-hán đệ tử này được gọi là Thanh văn giác (Sāvakabuddha). Quả vị A-la-hán thứ ba là Độc Giác Phật (Paccekabuddha), những vị tự mình chứng ngộ A-la-hán nhưng không thể hướng dẫn người khác chứng ngộ A-la-hán. Kinh điển Hán tạng còn gọi Độc Giác Phật là Duyên Giác Phật vì cho rằng các Ngài nhờ liễu ngộ nguyên lý Duyên khởi mà giác ngộ (cách nghĩ này bắt nguồn từ những giai thoại về chư Phật Độc Giác trong Chú sớ Tiểu Bộ Kinh, một trong những bộ phận kinh điển làm nền tảng cho nhiều kinh luận hậu tác, đọc kỹ các bộ A Hàm sẽ thấy rõ điều này). Kỳ thực, nếu đọc kinh Đại Duyên trong Trường Bộ kinh, ta sẽ thấy lý Duyên khởi và lý Tứ đế (vẫn bị hiểu lầm là dành riêng cho Thanh văn) vốn dĩ chỉ là một. Trong Trung Bộ kinh, Đức Phật đã xác định ai thấy lý Duyên khởi chính là thấy Pháp và ngược lại. Đồng thời, không hề có chuyện một người giác ngộ lý Tứ đế mà lại mơ hồ về lý Duyên khởi hay ngược lại. Tất cả quả vị A-la-hán vừa nêu trên đây luôn giống nhau về khía cạnh giác ngộ các pháp cần yếu (như Tứ đế, Duyên khởi…), chỉ khác ở hai điểm chính: Tự mình hiểu ra hay phải nhờ thầy hướng dẫn và điểm thứ hai là ngoài trí tuệ giác ngộ còn có khả năng hiểu biết sâu rộng những gì nằm ngoài lý tưởng giác ngộ hay không. Xét về khía cạnh này, chỉ có chư Phật Chánh Đẳng Giác là viên mãn. Tuy nhiên, trong bài viết này, chúng ta chỉ đặc biệt nhấn mạnh quả vị Bất lai, vì đề tài ở đây là các cõi Tịnh độ.

PHÉP VÃNG SANH TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PĀLI

Vãng sanh vẫn được dùng song song với chữ siêu sanh, nhưng theo tinh thần A Tỳ Đàm Pāli thì siêu sanh còn có thể được hiểu là vượt thoát tái sanh, một điều chỉ thực hiện được bởi một vị A-la-hán. Như vậy trong trường hợp vị Bất lai sanh về các cõi Tịnh độ chỉ có thể gọi là vãng sanh. Và nếu phải trả lời câu hỏi về con đường vãng sanh Tịnh độ, thì như tất cả những gì vừa nêu trên, ta hoàn toàn có thể nói rằng vãng sanh Tịnh độ chỉ là một phần đường trên hành trình giải thoát của một vị Thanh văn, và như thế pháp môn Tịnh độ hay con đường vãng sanh trong trường hợp này cũng đồng nghĩa với hành trình Tam học, Tứ niệm xứ, Bát chánh đạo, nói chung là hành trình 37 Bồ đề phần. Các pháp trong 37 Bồ đề phần đối với nhau chỉ là mối quan hệ tương tức; cái này chính là cái kia, trong cái kia có cái này.

Như vậy, lời đáp cho câu hỏi về con đường vãng sanh là toàn bộ những gì mà ta vẫn gọi là Phật pháp và theo cách hiểu này, pháp môn Tịnh độ cần thiết cho tất cả mọi người. Đồng thời, chiếu theo tinh thần căn bản của Phật giáo mà nói thì khi nhắc đến pháp môn Tịnh độ, cầu vãng sanh không hề có nghĩa là chờ đợi sự tiếp dẫn của bất cứ ai, mà phải là sự lên đường bằng chính đôi chân của mình.

Toại Khanh

Nguồn: fb Simsapa


Thiện là gì? Thiện là 6 căn biết 6 trần bằng tâm lành. Bất thiện là 6 căn biết 6 trần bằng tâm ác. Vui là 6 căn biết 6 trần như ý. Buồn khổ là 6 căn biết 6 trần bất toại.

Hạng chúng sanh bất thiện nó sống bằng 12 cái tâm nhân bất thiện: 8 tâm tham, 2 tâm sân, 2 tâm si là 12. Mười hai tâm nhân bất thiện đó nó sẽ tạo ra 8 tâm quả bất thiện. Mà trong 8 tâm quả bất thiện nói gọn lại là 6 căn chuyên môn biết cách bất toại. Do anh sống trong 12 tâm bất thiện, cho nên ngay bất cứ lúc nào anh có 12 tâm bất thiện xuất hiện thì một cách kín đáo lặng lẽ âm thầm anh đã tạo ra 8 tâm quả bất thiện cho một kiếp sau mà lúc nào thì trời biết, tùy nó mạnh hay yếu.

Tâm bất thiện mạnh hay yếu tùy vào ba điều kiện:

1. Đối tượng mình tạo nghiệp là đám đông hay cá nhân.

2. Tâm trạng của mình lúc mà mình làm nó chủ ý hay vô tình, nó mạnh hay yếu, thiết tha hay hờ hững.

3. Tác dụng của công việc đó mình làm vì mục đích gì.

Thí dụ: Tôi không thích đám đám đông Phật giáo này vì tôi là người không biết đạo nên mỗi lần nó tới ngồi thiền tôi bật nhạc lên lớn xíu. Nếu mà đám đông này tới vui chơi party, thì hành động tôi mở nhạc đó có tội nhẹ. Nhưng nếu mà đám đông này là học đạo, ngồi thiền là chết tôi.

Chỉ là một động tác rất là nhẹ, chỉnh volume thôi, là tôi đi địa ngục 18 kiếp. Mười tám kiếp là nói nghĩa bóng thôi chứ nó có thể là vô số kiếp. Bởi vì tôi phá đi cái cơ hội để người ta nghe đạo và hành đạo. Nếu cũng động tác này mà tôi chỉ vặn để tôi hay con tôi nghe nhạc thì khác, nhưng hôm nay tôi vặn để phá đám bên đấy thì lúc đó tôi nghĩ gì? Tôi thấy đông đông tôi tưởng đám Phật giáo đó là party phá cho vui thôi thì lúc đó ý tôi lại khác. Nhưng nếu mà tôi biết chính xác cái đám này nó đang mê hành thiền, nó đang learning Buddhism thì lúc đó tội nó khác. Cho nên tùy đối tượng đó là đám đông hay cá nhân, dụng tâm chủ ý là gì và tác dụng cùng hiệu quả, hậu quả của nó là gì.

Trong Kinh ghi rất rõ, cũng công sức đó, thời gian đó, tài sản vật chất đó bỏ ra, nếu mà ta nhắm tới đối tượng tập thể và nhất là ta nhắm đến tác dụng lâu bền thì công đức đó chẳng thể nghĩ bàn. Ví dụ xây dựng cầu, đường, đào giếng ... số người sử dụng 3 cái này nhiều hay ít? Và việc sử dụng nó là không có giới hạn biết tới kiếp nào mới hư, và số lượng người dùng nó không thể đếm kể. Thí dụ tôi chỉ bỏ ra 2000$ để đào cái giếng ở Miến Điện thì công đức đó chẳng thể nghĩ bàn. Bởi vì số người xài nó gồm có Tăng, Ni, Phật tử, cư sĩ, những người dùng giếng đó là những người học đạo, hành đạo và có lẽ là những người chứng đạo. Trong đó có những vì Bồ tát tương lai, vị Phật tương lai. Chúng ta không biết được trong chúng sanh ai sẽ thành Phật. Cho nên khi bỏ $2000 mà đào giếng chỉ nghĩ một chuyện là không có đại ca nào đi ngang đây mà không dùng cái giếng này. Vậy thì quả báo của $2000 này là không thể nghĩ bàn. Trong khi đó mình bỏ ra $50,000 đãi mấy chục người ăn yến sào, bào ngư, chỉ vài chục mâm nhậu là hết, và không đi đến đâu hết. Thì so với $2000 đào giếng kia là không thể nghĩ bàn.

Trích bài giảng Căn Bản Giáo Lý A Tỳ Đàm của sư Giác Nguyên

Kalama xin tri ân bạn mslenhung ghi chép

-


 “1. Một thời, Thế Tôn trú ở Nàdika, tại Ginjakāvasatha. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo" - "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
2. Niệm chết, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy tu tập niệm chết.”

Đây là bài kinh ruột của chúng tôi. Một thời Thế Tôn trú ở Nādika, tại Ginjakāvasatha. Mỗi lần tôi gặp địa danh Ginjakāvasatha này tự nhiên tôi ngậm ngùi. Ở đó có một ngôi nhà lớn bằng gạch cho nên dân địa phương đặt tên chỗ đó là Nhà Gạch (Ginjakāvasatha: a house made of bricks). Giống như ai đọc Chí Phèo của Nam Cao thì biết mối tình trái ngang dễ thương của Thị Nở, Chí Phèo cũng diễn ra trong bối cảnh lò gạch. Tôi dừng lại ở cái địa danh này bởi vì chắc trong room này cũng có nhiều người cũng yêu văn và cũng biết nhân vật Chí Phèo Thị Nở, từ đây về sau mỗi lần nhìn thấy địa danh này trong kinh hoặc mỗi lần nhắc đến Chí Phèo Thị Nở quí vị sẽ nhớ đã từng nghe ông sư giảng trong room rằng trong thời Đức Phật cũng có một cái nhà gạch. Đương nhiên thời nào ở đâu cũng có Chí Phèo Thị Nở, ở đâu cũng có anh hùng, ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên, ở đâu cũng có Thạch Sanh Lý Thông, ở đâu cũng có Thúy Kiều… Tự nhiên muốn tặng bà con món quà sáng. Từ nay về sau thấy chữ  Ginjakāvasatha thì nhớ đây là cái lò gạch thời Đức Phật, chắc chắn là cũng có Thị Nở, Chí Phèo, cũng có khu vườn chuối, cũng có những đêm say sưa, có gió có trăng, có bát cháo hành, đi về có nhau. Tào lao tới đó đủ rồi, bây giờ quay lại kinh.

Ngay tại ngôi nhà gạch đó, Thế Tôn đã gọi các tỳ kheo và nói rằng: Phải có một pháp môn khi tu tập tới nơi tới chốn sẽ đem lại lợi ích rất là lớn, đó là đề mục niệm chết. Rất nhiều người trong room chưa từng nghe qua đề tài này. Thường là chỉ nghe hai đề mục phổ thông là niệm Phật, niệm hơi thở; hoặc là từ bi quán, nguyện cho tất cả chúng sanh hướng Đông, hướng Tây, hướng Nam, hướng Bắc được an lạc, không đau khổ, không sợ hãi, đừng oan trái lẫn nhau… đại khái là chỉ nghe nói pháp môn rải tâm từ, niệm Phật, niệm hơi thở, quán bất tịnh, quán thể trược, quán tử thi. Nhiều người sẽ ngạc nhiên mắt chữ A mồm chữ O thắc mắc sao tu mà có cái niệm đề mục gì lạ. Họ không ngờ được rằng cái đề mục chết này là đề mục dính liền trong tâm khảm của tất cả người tu hành cầu giải thoát. 

Vì đâu tôi nói như vậy? Chúng ta thấy đại trí như Bồ tát Tất Đạt nhìn thấy xác chết là đã muốn buông hết để đi tu. Ngài nhìn thấy bốn cảnh lão-bệnh-tử-tăng là buông đi tu liền tức thì. Ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên lúc còn ngoài đời hai anh em rủ nhau đi xem kịch, nhìn thấy mỗi lần bức màn trên sân khấu kéo ra đóng lại là ra người khác. Chuyện thay tuồng, thay vai, thay áo liên tục diễn ra. Các ngài nhìn nhau, và nói với nhau, sao giống cuộc đời quá. Có rồi mất; hồi nào là lên voi, hồi nào là xuống chó; hồi nào là công hầu khanh tướng, hồi nào là ăn mày khố rách áo ôm. Thế là hai anh em chán đời quyết định bỏ đi tu luôn. Các ngài cũng thấm thía nỗi đời hư ảo đó.

Tự nhiên nói đến đây tôi nhớ câu thơ rất là hay của ông nào đó ở Việt Nam: Hôm nay ngửa mặt nhìn trời/ nghe ta hư ảo nghe đời phù du. Đề mục niệm chết phải là thường trực trong tâm tưởng của người tu hành. Bởi vì, anh có tu đề mục gì, thân thọ tâm pháp hay là gì tôi không cần biết. Anh chỉ làm ơn nhớ giùm rằng [cơ hội tu tập chỉ có ngay trước mắt, ngay bây giờ và tại đây]. Hãy nhớ như vậy. Tu tập rốt ráo là phải như vậy. Luôn luôn tâm niệm như vậy. Chuyện đáng làm nhất trong cuộc đời của mình chính là tu tập. Và cơ hội tu tập là tại đây và bây giờ. Bởi vì không biết một tí nữa chuyện gì xảy ra. Mỗi ngày tôi liếc một vòng các báo để biết tình hình thế giới nói chung, và cũng đảo một vòng trên báo VN. Mình thấy lúc này tai nạn giao thông quá tàn khốc, dễ chết lắm. Tôi không dọa bà con, nhưng bà con phải đồng ý với tôi là bà con dừng đèn đỏ cũng chết, đi xe 2 bánh cũng chết, 4 bánh cũng chết, 8 bánh 18 bánh cũng chết. Cho nên chuyện đáng làm nhất trong đời người đó là sống theo lời Phật dạy. Cơ hội để sống theo lời Phật dạy chỉ có tại đây và bây giờ mà thôi. Câu đó nghe hơi quá nhưng đó là sự thật. Chuyện hôm qua đã qua mất rồi nói làm chi. Chuyện sắp tới mình không lấy gì làm chắc, không biết lát nữa mình ra đường có còn không. Đừng có nói chỉ xảy ra trong nước, mà nước nào cũng vậy hết. Trong nhịp sống xô bồ của thế giới hôm nay, chúng ta tích tập trong người biết bao nhiêu thứ tâm bịnh, stress, trầm uất. Với điều kiện thuốc men thực phẩm, cơ thể mình tích tập biết bao nhiêu chứng bịnh do thực phẩm, do nhịp sống rộn ràng đem lại. Cái mầm chết trong thân xác của chúng ta lúc nào cũng đầy ắp. Cơ hội mà chúng ta chết nhiều lắm. Chưa kể bây giờ có những chứng bệnh người ta chưa kịp đặt tên mà đã chết cả đám rồi. Có những chứng bệnh lạ lắm, mất hẳn khả năng đề kháng. Không phải Sida, mà thuốc men gì cũng từ chối, không tiếp nhận dược phẩm nào vào người hết. Chích thuốc vô là người bệnh chỉ biết mệt thôi, bác sĩ tìm không ra bệnh. Tìm không ra làm sao cho thuốc. Thế là bệnh nhân đành phải chịu chết. Loại bệnh đó bây giờ rất là nhiều. Tôi nghĩ trong room này có nhiều người có kiến thức chuyên môn sẽ hiểu điều tôi nói. Có người bịnh ung thư, từ lúc phát hiện đến lúc chết là 10 năm, có người chỉ vừa phát hiện ba tháng sau là đi. Di căn lên tới tủy tới xương rồi. Những người khám định kỳ cũng không nên tin tưởng lắm vào tuổi thọ của mình, bởi vì có một số bệnh là đi nhanh lắm. Bên Houston có một cô người Việt khỏe mạnh lắm, cổ đi làm về chiều thứ Tư, thấy kỳ kỳ, nói với chồng. Ông chồng biết vợ không bao giờ nói những câu kỳ cục như vậy, thường là cô vợ hay trấn an chồng. Bây giờ thì cô nói thấy trong người kỳ kỳ. Khi đưa đi viện, thì họ nói là chỉ còn về làm di chúc thôi, không qua khỏi tuần này. Cổ chỉ mệt thôi. Về thu xếp việc nhà thì chiều thứ Sáu mất. Mất mà vẫn còn tiếp tục trẻ đẹp. Mới chiều thứ Tư đưa vô, bệnh viện nói không chữa được cho về thu xếp. Thu xếp xong việc nhà là chiều thứ Sáu mất. Rất đơn giản!

Bài kinh này rất quan trọng. Đức Phật dạy: Nền tảng của tất cả mọi pháp môn chính là niệm chết. Anh tu cái gì không cần biết, chuyện đầu tiên anh phải nhớ rằng cơ hội để anh hành trì chỉ là tại đây và bây giờ mà thôi. Một tiếng nữa mình không biết chuyện gì xảy ra. Hoặc không chết mà tự nhiên bị liệt, hoặc tửng tửng quên sạch hết, thành ra con người khác, hoặc nằm thiêm thiếp, hoặc coma, thành người thực vật.
Ngài hỏi chư tăng, mỗi vị đều thưa với Ngài là chúng con có tu tập sự chết. Mỗi vị đều trình với Ngài họ tu như thế nào, trong đó có một vị tỳ kheo được Đức Phật tán thán. Vị đó nói rằng: Con tu tập đề mục chết trong từng hơi thở. 

Tôi không biết là do tôi sẽ yểu mệnh, hay do một thúc đẩy tiền duyên quá khứ, nhưng tôi rất-rất-rất là tâm đắc đề mục chết. Một phần có thể do nhát gan, một phần do thể trạng không khỏe từ bé, và cũng hy vọng một phần là do sự tác động của kinh điển, cho nên đề mục chết là đề mục mà tôi thường hay nhắc nhở bà con ngay khi có dịp. 

Có 3 cấp độ niệm chết:

Cấp độ 1. Niệm chết một cách sơ sài (về thời gian và tâm trạng) để thu xếp đời sống.
Cứ nhớ chừng chừng là cái chết sẽ đến, mỗi lần nhớ như vậy thì tâm trạng hơi ngậm ngùi, hơi giật mình, nhưng không đến nỗi kinh động lắm, và thời gian cũng không khít khao lắm. Vài ngày nhớ một lần, để thu xếp chuyện gia đình, nhà cửa.

Cấp độ 2. Niệm chết để tinh tấn trong mỗi ngày, trong  mỗi thời khóa tu tập. 
Nghĩa là buổi sáng mùa đông thấy ngủ nướng ngon quá, sực nhớ đến cái chết bật dậy liền. Hoặc buổi chiều thấy gió mát hiu hiu muốn pha bình trà ngồi chơi, nhưng không, tới giờ thiền tọa rồi, bắt đầu kiếm chỗ vô ngồi. Ngồi một hồi định đi đâu đó chơi, nhưng không, nhớ là cơ hội không còn nhiều. Còn sống còn khỏe còn trẻ mới tu chứ mai mốt già bịnh chết thì làm sao tu. Thay vì đi chơi thì từ thiền tọa chuyển qua thiền hành.

Cấp độ 3. Liên tục thường trực niệm chết trong mỗi hơi thở.
Nghĩa là lúc nào cũng nhớ rằng thân tâm này đang chết đi trong từng giây, để không còn thích ghét, sợ hãi. Ngay cả cái chết có xảy đến cũng không sợ hãi. Lúc nào cũng nhớ rằng thân tâm này không có gì là một. Con số 1 là một con số giả thuyết, không có ở trong tự điển Phật pháp. Trong đạo Phật không có cái gì là một hết. Ví dụ nói rằng “trong mỗi (một/ each) chúng sanh” là mình thấy có cái gì đó hơi sai sai rồi. Bởi cái gọi là chúng sanh gồm rất nhiều thứ mà mình gom gọn lại là danh và sắc. Danh gồm có tâm thức và tâm sở -- tâm sở có tới mấy chục. Sắc pháp chính là vật chất, có tới mấy chục thứ sắc pháp. Mấy chục đó cộng lại thành ra cái gọi là một-người. Phải hiểu ngầm con số 1 này là con số giả thuyết, con số mượn. Rồi cái dòng chảy sanh diệt của tâm thức diễn ra trong từng sát-na. Một giây đồng hồ của mình có vô số sát-na. Một sát na là tổng hợp của tâm thức và mấy chục tâm sở trong đó. Càng xé nhỏ thì càng thấy không có gì là một. Hành giả thường xuyên liên tục ghi nhớ điều này, thật ra không có gì là một, tất cả là đồ ráp, mình chỉ là một nắm cát. Nắm cát này đang bị gió cuốn, nắm cát này đang bị cuốn theo chiều gió, nắm cát này đang được thay thế bởi nắm cát khác. Liên tục và thường trực suy niệm như vậy được gọi là niệm chết ở cấp độ ba. Với cấp độ này thì bà con mới có thể đối phó với những sợ hãi ghen tuông hờn giận tiếc nuối ray rứt, và bà con mới có thể sống an lạc, sống với tâm trạng của người không còn gì để nắm và cũng không biết nắm vào đâu. Tâm trạng đó rất là thoải mái. 

Từ trước đến giờ chúng ta thấy bơ vơ cô quạnh, chúng ta thấy lẻ loi nhưng chúng ta không biết được rằng trên đời làm gì có điểm tựa cho danh sắc. Danh sắc do duyên mà có, chứ không có tựa không nương vào đâu hết. Quí vị mở cuốn Kinh Nghiệm Tuệ Quán 2 của chúng tôi mà xem phần 40 đặc tính Tam tướng của danh sắc, trong đó mấy cái đặc tính: Atāṇato là không có điểm tựa trong dòng chảy sanh diệt, Aleṇati là không có chỗ nương náu trong Tam tướng. Nghĩa là đủ duyên thì có, duyên hết thì nó bèn tan, không có cái gì có thể kềm giữ nắm níu nó lại hết.  Nghĩ vậy mới thấy khiếp. Hành giả phải thấy đến mức như vầy: đây là do duyên hội lại, mắt thấy, cộng với tiền nghiệp, cộng với khuynh hướng tâm lý và môi trường hiện tại gió mát trăng thanh. Đây là trăng đang lên sau bờ tre bụi chuối, gió mát hiu hiu…. Những gì đang thấy cộng hết lại, mình thấy vui, thấy đêm nay trăng đẹp. Cũng đêm trăng đó, đang ngồi thưởng thức, bỗng nghe phone kêu cái ‘beng’, móc ra đọc cái tin nhắn nổi điên lên. Cũng đêm trăng đó, không lấy bớt cái gì hết, chỉ là tặng thêm cái tin nhắn thôi. Nếu là hành giả tu tập, hành giả thấy, ồ thì ra, nỗi khổ niềm đau niềm hạnh phúc của mình sao mong manh phù du đến như thế. Trước sau chỉ có ngần ấy thôi, nó do duyên mà có. Quí vị nghĩ bây giờ tôi đẹp, tôi khỏe, chồng thương vợ quý, con cái nhà cửa ngon lành… thì mấy cái đó là do mình tưởng thôi quí vị. Chứ còn để cho mình vui là tôi không có hứa. Hồi nãy đang trăng thanh gió mát ngon lành mà chỉ một cái beng rồi coi tin nhắn thế là tan tành. Trăng rụng xuống cầu, gió mát biến thành gió nóng sa mạc. Hành giả tu tập đề mục chết là phải thường xuyên tâm niệm rằng cái chết đang xảy ra trong từng phút cho thân và tâm này. Không có cái gì trên đời này là một, mọi thứ chỉ là một khối tổng hợp của nhiều thứ; nó tan biến trong từng phút từng giây và được thay thế bởi khối tổng hợp khác. Đó là niệm chết cấp 3, mức rốt ráo nhất. 

Phải nói như vậy  bà con mới thấy vì đâu Thế Tôn khen vị tỳ kheo niệm chết trong từng hơi thở. Niệm chết như vậy thì khi gặp cái chết mới không có sợ, và khi ra đi không có sợ hãi, không tiếc nuối, không ray rứt, không luyến lưu, không quay đầu nhìn lại. Không có gì tan nát can tràng cho bằng chân bước đi mà đầu quay lại mắt nhìn lưu luyến – đau lắm. 

Mình sống làm sao mà tới ngày mình đi mình không có sợ, không tiếc nuối mà mình thấy đi đến chỗ mới tốt hơn, còn chỗ này ớn quá rồi. Đây cũng là lý do vì đâu có kẻ muốn tự sát. Tôi nói như vậy không phải là xúi bà con tự sát. Tôi chỉ minh họa là có những người thấy đời sống này ra làm sao đó họ mới đi tự sát. Người tu hành thì không tự sát, nhưng mình phải sẵn sàng ra đi trong một tâm trạng hoặc thanh thản, hoặc chán chường. Không còn gì luyến lưu nắm níu. Tệ nhất là chết kiểu sợ hãi, tiếc nuối, ray rứt. Cái đó là tôi kỵ dữ lắm. 

Như vậy, có ba cấp độ niệm chết: 1. Niệm chết một cách sơ sài để dàn xếp cuộc sống; 2. Niệm chết để mình tinh tấn trong mỗi ngày; 3. Niệm chết để chứng thánh, để có thể ra đi bất cứ lúc nào. 

# Niệm Chết
#NhậtKýChépBằngKinh19
#SưGiácNguyên giảng

Nguồn: fb New Dharma Readers
-


Mình không thể nào trông mong người ta giúp mình mà mình cứ ngồi khoanh tay. Ví dụ như thuốc bơm vào chữa trị cho bệnh nhân, thì cơ thể bệnh nhân phải có khả năng tiếp nhận ra sao thì thuốc đó mới có hiệu quả. Có trường hợp thuốc đưa vô, cơ thể nó phản ứng chứ không có nhận. Trường hợp đó chỉ có chết thôi. Thuốc là để giúp cho cơ thể bệnh nhân hết bệnh nhưng cơ thể phải tương ứng mới nhận được. Bác sĩ có giỏi bằng trời, thuốc hay bằng trời mà không có sự hợp tác của bệnh nhân thì thầy và thuốc đều không thể làm việc được.

Cách đây mấy năm tôi có đi thăm một bà cụ 103 tuổi, người Hoa, bà bị bệnh nặng. Khi con cháu bà đưa tôi về thăm bà, bà lén khoe với tôi một chuyện. Bà lấy tay che môi, bà nói nhỏ nhỏ: “Tao mới giấu thêm 6 viên thuốc nữa”. Bà mới giở cái nệm ra, ở dưới là một bụm mấy viên thuốc. Bà mới lắc đầu trề môi: “Tụi nó muốn giết tao đâu có dễ”. Coi như y tá đưa thuốc nhiêu là bà giấu hết. Vì bà nghĩ là tụi nó muốn giết bà. Mà y tá hơi hờ hững không để ý. Khi tôi vô bà kể mà mặt bà hiển hách chiến công lắm. Nghĩ sao đi giấu mà còn khoe nữa. Tưởng vậy là hay. Giờ thì bả chết rồi. Giấu thế sao mà sống nỗi.

Ở đây cũng vậy, dầu thầy hay cách mấy mà người bệnh không hợp tác, thuốc hay cách mấy mà không hợp tác, thì thua. Cho nên Tây có câu “Chúa chỉ giúp người nào biết tự cứu” *. Tôi kể câu chuyện lũ lụt các vị nhớ không? Giáo dân đi ngang nhà thờ nói: "Cha ơi, lụt tới rồi, Cha lên xe tụi con chở đi!" Cha nói: "Chúa không bỏ cha." Lát sau, nước tới rún, giáo dân đi xuồng tới, "Cha ơi, đi với con." Ông vẫn lắc đầu, "Chúa không bỏ cha." Lát sau nước đến ngực, trực thăng tới đòi đem ông đi, cảnh sát tới đòi mang ông đi, ông vẫn kêu “Không, chúa không bỏ cha”. Mười lăm phút sau ông về với Chúa. Mắt mờ lệ nhìn chúa, ông hỏi: "Vì sao chúa bỏ con?" Chúa trả lời: "Ta đã điều nào ca nô, nào trực thăng, cảnh sát mà con đều lắc đầu, thì ta giúp con kiểu nào đây? Con còn kêu trời nào nữa?"

Câu chuyện đó tuyệt đối không phải chuyện đùa. Câu chuyện đó cũng không phải là câu chuyện Chúa, mà là câu chuyện chùa. Bởi vì chùa cũng y chang như vậy. Không có phật nào độ được người nào không hợp tác.

Phật trí vô biên,

Phật lực vô cùng,

Phật tâm vô lượng,

Không độ được người vô duyên.

Nhớ nha! Bởi vì nếu các bậc thánh hiền mà độ được cả mấy cái thằng cà chớn, thì bây giờ tụi mình đâu có nằm lủ khủ ở đây.

Trích bài giảng Hỗ Tương, Tương Ưng và Quyền Duyên

Kalama xin tri ân bạn Nguyenhuongbichhue ghi chép.

Nguồn: http://toaikhanh.com/