Select Menu

hot

Bài đăng nổi bật

TỦ SÁCH PHẬT HỌC DÀNH CHO SMARTPHONE

Trong cuộc sống hiện đại, sách điện từ đang dần thay thế sách giấy. Các tác phẩm Phật học, trong đó có Kinh Phật, cũng không ngoài quy luật ...

Tìm kiếm Blog này

random posts

Ads 180

Ads 180
Bán xe Ford Taurus

Popular Posts

Phật

Tăng

Thần Thông

Thiên Giới

Chùa

Đọa Xứ

Video

Cây kơ-nia 300 tuổi tại xóm Gò, thôn Thanh Bình, xã Phổ Thuận, huyện
Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, tương truyền có Thần Cây trú ngụ

Tương Ưng Bộ / Tập III - Thiên Uẩn / [31] Chương X. Tương Ưng Càn Thát Bà ]

I. Chủng Loại (S.iii,249)


1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về chư Thiên thuộc loại Gandhabba (Càn-thát-bà). Hãy lắng nghe.

4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chư Thiên thuộc loại Gandhabba?

Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo, trú hương rễ cây.

Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo, trú hương lõi cây.

Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo, trú hương giác cây.

Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo, trú hương vỏ cây trong.

Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo, trú hương vỏ cây ngoài.

Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo, trú hương lá cây.

Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo, trú hương bông.

Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo, trú hương trái cây.

Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo, trú hương vị.

Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo, trú hương hương.

5) Những loại này, này các Tỷ-kheo được gọi là chư Thiên thuộc loại Càn-thát-bà.

[Hết trích]

-


Ngũ uẩn, là năm nhóm tượng trưng cho năm yếu tố tạo thành con người, toàn bộ thân tâm. Ngoài ngũ uẩn đó ra không có gì gọi là cái "ta".

Ngũ uẩn là:

Sắc uẩn, chỉ sự nhận biết mình có thân và sáu giác quan (hay còn gọi là lục căn, bao gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý), do Tứ đại chủng tạo thành, đó là bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa. Sắc tạo nên các giác quan và đối tượng của chúng. Cái biết của sắc uẩn gọi là sắc thức, là sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan: Ý thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sắc thức phụ thuộc vào sáu căn tiếp xúc với sáu trần để hình thành nên sáu thức. (Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là sắc? Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc).

Thọ uẩn, tức là toàn bộ các cảm giác, cảm nhận sự thay đổi chung quanh, không phân biệt chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính. (Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thọ? Ðược cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Ðược cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ).

Tưởng uẩn là nhận biết sự khác biệt, như là màu này khác màu kia, mùi này khác mùi kia... (Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là tưởng? Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng. Nhận rõ gì? Nhận rõ màu xanh, nhận rõ màu vàng, nhận rõ màu đỏ, nhận rõ màu trắng. Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng).

Hành uẩn, Hành là ý định, toan tính, suy tư, cân nhắc trước 1 quyết định. Hành bao gồm tất cả các chủ tâm trước khi một hành động được hình thành. Hành là đối tượng đã tạo nên nghiệp thiện ác (Gồm Thân hành, Khẩu hành, Ý hành). (Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là hành? Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là các hành).

Thức uẩn, là sự nhận thức nhờ mặc định, mặc định cái này chua, mặc định cái kia đắng, mặc định cái nọ màu đỏ, mặc định cái kia nóng, cái này lợi, cái kia không lợi... Đây cũng là bước chuyển tiếp của tưởng uẩn và hành uẩn, từ sự cảm nhận sự khác biệt rồi suy tư cân nhắc xem mức độ khác biệt như thế nào, cho đến định nghĩa sự khác biệt bằng những danh từ hay tên gọi cho từng sự vật, sự việc, hiện tượng... (Và này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thức? Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm... rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức).

Ngũ uẩn cũng được gọi là năm ràng buộc vì chỉ có Phật hay A-la-hán mới không bị dính mắc nơi chúng. Đặc tính chung của chúng là Vô thường, Vô ngã và Khổ.

Tính chất khổ và vô thường của năm uẩn là một trong những quan điểm quan trọng nhất của Phật giáo. Khổ xuất phát từ lòng ham muốn, không hiểu sự vô thường của ngũ uẩn, không chắc thật của các uẩn đó; và con người được tạo thành từ năm uẩn đó không gì khác hơn là một sự giả hợp, không có một cái "ta" thật sự đứng đằng sau con người đó (Vô ngã). Tri kiến về tính vô ngã của ngũ uẩn là một tri kiến rất quan trọng, nó có thể đưa đến giải thoát.

Đại sư người Đức Nyānatiloka trình bày như sau về tầm quan trọng đó:
"Đời sống của mỗi chúng ta thực chất chỉ là một chuỗi hiện tượng thân tâm, một chuỗi hiện tượng đã hoạt động vô lượng kiếp trước khi ta sinh ra và sẽ còn tiếp tục vô tận sau khi ta chết đi. Ngũ uẩn này, dù riêng lẻ từng uẩn hay hợp chung lại, chúng không hề tạo thành một cái gì gọi là cái ta. Ngoài chúng ra, không còn cái gì được gọi là một thể của cái ta độc lập với chúng, để ta tạm gọi nó là cái ta. Lòng tin có một cái ta, có một nhân cách độc lập chỉ là một ảo tưởng."
Joseph Goldstein cũng viết:
"Cái mà chúng ta gọi là cái ta chỉ là ngũ uẩn đang hiện hành vô chủ".
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
-


[Tương Ưng Bộ / Tập I - Thiên Có Kệ / [11] Chương XI. Tương Ưng Sakka / II. Phẩm Thứ Hai / III. Huyễn Thuật (S.i,238)] :

1) Tại Sàvatthi...

2) Thế Tôn nói như sau:

3) -- Này các Tỷ-kheo, thuở xưa A-tu-la Vepacitti, vua các A-tu-la, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.

4) Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka đi đến A-tu-la để hỏi thăm tình trạng bịnh hoạn.

5) Này các Tỷ-kheo, Vepacitti từ đàng xa trông thấy Thiên chủ Sakka đi đến, thấy vậy liền nói với Thiên chủ Sakka:

"-- Này Thiên chủ, hãy chữa bệnh cho tôi".

6) "-- Này Vepacitti, hãy nói tôi biết ảo thuật của Sambhara".

7) "-- Này Tôn giả, hãy chờ tôi hỏi ý kiến các A-tu-la."

8) Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la, hỏi ý kiến các A-tu-la:

" -- Chư Tôn giả, tôi có nên nói cho Thiên chủ Sakka, ảo thuật của Sambhara không?"

9) " -- Thưa Tôn giả, Ngài không nên nói cho Thiên chủ Sakka ảo thuật của Sambhara".

10) Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la, nói lên bài kệ này với Thiên chủ Sakka:

Ông thuộc dòng Magha,
Là Sakka, Thiên chủ,
Là chồng của Sujà,
Ảo thuật dắt dẫn đến,
Vực sâu của địa ngục,
Tại đấy Sambhara,
Ðã sống một trăm năm.

[Hết trích]


Tương Ưng Bộ / Tập I - Thiên Có Kệ / [11] Chương XI. Tương Ưng Sakka / II. Phẩm Thứ Hai / IX. Sakka Ðảnh Lễ (S.i,235) ]

1) Tại Sàvatthi, Jetavana...

2) -- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói với người đánh xe Màtali:
" -- Này Màtali thân, hãy thắng ngàn con ngựa khéo huấn luyện vào cỗ xe. Chúng ta hãy đi đến vườn cảnh để ngắm cảnh".

3) " -- Thưa vâng, Tôn giả".
Này các Tỷ-kheo, người đánh xe Màtali vâng đáp Thiên chủ Sakka, sau khi thắng một ngàn con ngựa khéo huấn luyện vào cỗ xe, liền báo với Sakka:
"Thưa Ngài, ngàn con ngựa khéo huấn luyện đã được thắng vào cỗ xe. Nay Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời".

4) Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka, từ cung điện Vejayanta đi xuống, chắp tay kính lễ Thế Tôn.

5) Rồi Màtali, người đánh xe nói lên những bài kệ với Thiên chủ Sakka:

6)
Thiên, Nhân kính lễ Ngài,

Hỡi này Vàsava.

Dạ-xoa ấy tên gì

Vị mà Ngài đảnh lễ,

Này Sakka?

7) (Sakka):
Bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác,

Ðời này với chư Thiên,

Bậc Ðạo Sư tối thượng,

Vị ấy ta đảnh lễ,

Này Màtali!

Những vị đã đoạn trừ,

Tham, sân và vô minh,

Bậc lậu tận, La-hán,

Vị ấy ta đảnh lễ.

Bậc điều phục tham sân,

Vượt khỏi màn vô minh,

Hoan hỷ đoạn tái sanh,

Các bậc thuộc hữu học,

Không phóng dật, tu học,

Vị ấy ta đảnh lễ,

Này Màtali.

8) (Màtali):
Phải tôi cũng được nghe,

Ở đời bậc tối thượng,

Sakka Ngài đảnh lễ,

Những vị Ngài đảnh lễ,

Tôi cũng đều đảnh lễ,

Ôi này Vàsava.

9)
Maghavà nói vậy,

Vua Sujampati,

Ðảnh lễ Thế Tôn xong,

Lên xe, dẫn đi đầu.

[Hết trích]
-


Tương Ưng Bộ / Tập I - Thiên Có Kệ / [11] Chương XI. Tương Ưng Sakka / II. Phẩm Thứ Hai / I. Chư Thiên Hay Cấm Giới (S.i,228) ]

1) Tại Sàvatthi.

2) -- Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn làm người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.

3) Bảy cấm giới túc là gì?

4) "Cho đến trọn đời, tôi hiếu dưỡng cha mẹ. Cho đến trọn đời, tôi kính trọng gia trưởng. Cho đến trọn đời, tôi nói lời nhu hòa. Cho đến trọn đời, tôi không nói lời hai lưỡi. Cho đến trọn đời, với tâm ly cấu uế và xan tham, tôi sống trong gia đình với tâm bố thí, với tay sạch sẽ, hoan hỷ thí xả, nhiệt tình đáp ứng các yêu cầu, sung sướng phân phối vật bố thí. Cho đến trọn đời, tôi nói lời chân thực. Cho đến trọn đời, tôi không phẫn nộ, nếu tôi có phẫn nộ, tôi sẽ mau chóng dẹp trừ phẫn nộ ấy".

5) Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn làm người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.

6)

Ai hiếu dưỡng cha mẹ,
Kính trọng bậc gia trưởng,
Nói những lời nhu hòa,
Từ bỏ lời hai lưỡi,
Chế ngự lòng xan tham,
Là con người chân thực,
Nhiếp phục được phẫn nộ,
Với con người như vậy,
Chư Thiên tam thập tam,
Gọi là bậc Chơn nhơn.

[Hết trích]
-

Tóm tắt:

Một vị thần xấu xí bỗng từ đâu đến ngồi lên ngai vàng của Vua trời Đao Lợi... Vua trời Đao Lợi xử lý vị thần xấu xí đó như thế nào?
Tương Ưng Bộ / Tập I - Thiên Có Kệ / [11] Chương XI. Tương Ưng Sakka / III. Phẩm Thứ Ba (hay Sakka Năm Kinh) / II. Xấu Xí (S.i,237) ]


1) Tại Sàvatthi, Jetavana.

2) Tại đây... Thế Tôn nói như sau:

3) -- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có một Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to (Okotimako), đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka.

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên bực tức, chán ghét, phẫn uất: "Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Tên Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to lại đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka!".

5) Này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên càng bực tức, chán ghét, phẫn uất bao nhiêu, thời Dạ-xoa ấy càng đẹp hơn, càng dễ nhìn, càng dễ thương bấy nhiêu.

6) Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên đi đến Thiên chủ Sakka; sau khi đến, nói với Thiên chủ Sakka:

7) "-- Ở đây, này Tôn giả, có một Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to đến ngồi trên chỗ ngồi của Ngài. Ở đây, này Tôn giả, chư Thiên ở Tam thập tam thiên, bực tức, chán ghét, phẫn uất: "Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Dạ-xoa này xấu xí, thấp lùn, bụng to lại đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka!". Nhưng này Tôn giả, chư Thiên ở Tam thập tam thiên càng bực tức, chán ghét, phẫn uất bao nhiêu, thời Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to ấy càng tốt đẹp, càng dễ nhìn và càng dễ thương bấy nhiêu. Thưa Tôn giả, có phải Dạ-xoa ấy sẽ trở thành Dạ-xoa nuôi dưỡng với phẫn nộ?"

8) Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka đi đến Dạ-xoa nuôi dưỡng bằng phẫn nộ ấy; sau khi đến đắp thượng y vào một bên vai, đầu gối phải quỳ trên đất, chấp tay vái Dạ-xoa nuôi dưỡng với phẫn nộ và nói lên tên của mình ba lần: "Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka! Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka!".

9) Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka càng nói lên tên của mình bao nhiêu thời Dạ-xoa ấy càng trở thành xấu xí, thấp lùn, bụng to bấy nhiêu; và sau khi trở thành càng xấu xí, càng thấp lùn, bụng to hơn, vị ấy biến mất tại chỗ ấy.

10) Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka, sau khi ngồi xuống trên chỗ ngồi của mình, làm cho hòa dịu chư Thiên ở Tam thập tam thiên, ngay lúc ấy, nói lên những bài kệ này:

Tâm ta không dễ dàng,
Ðể cho bị thất trận,
Không dễ bị lôi kéo,
Trong xoáy nước dục tình.
Người biết đã từ lâu,
Ta không còn phẫn nộ,
Phẫn nộ không chân đứng
Một chỗ nào trong ta.
Ta không nói ác ngữ,
Vì phẫn nộ giận hờn,
Và không có khen tặng,
Những đức tánh của ta.
Thấy được lợi ích mình,
Ta tự thân chế ngự.

[Hết trích]
-


Theo Kitô giáo, Chiến tranh trên Thiên đàng là một cuộc chiến đã diễn ra trên Thiên đàng, khi mà Tổng lãnh thiên thần Lucifer lãnh đạo một phần ba các Thiên thần trên Thiên đàng nổi loạn chống lại Thiên Chúa và các thiên thần trung thành với Người.

Nguyên nhân chiến tranh

Nguyên nhân sâu xa nhất dẫn đến việc Lucifer phát động cuộc bạo loạn này là sự sáng tạo ra loài người, và trên hết là việc Thiên Chúa ra lệnh cho toàn thể các thiên thần cúi mình trước loài người, đặc biệt là việc phải tôn thờ một vị Đấng Cứu Thế là Chúa Giêsu Kitô - Ngôi Hai Thiên Chúa (hay Chúa Con) nhưng được sinh ra làm người để cứu chuộc nhân loại và mang cả hai bản tính: Thiên Chúa và con người (nghĩa là Chúa Giêsu là Con của Thiên Chúa Cha nhưng cũng đồng thời là Thiên Chúa, tồn tại từ trước muôn đời nhưng nhập thể xuống làm con người để cứu chuộc nhân loại). Lucifer coi đây là một sự sỉ nhục và bất công, y muốn chính mình được hiệp cùng bản tính Thiên Chúa chứ không phải là một con người nào. Sau đó y bèn tập hợp các thiên sứ khác - những thiên sứ cũng coi việc cúi mình trước loài người là một sự sỉ nhục khi mà họ mới chính là tạo vật đầu tiên của Thiên Chúa.

Cuộc chiến

Với đầy sự ngạo mạn, Lucifer đưa ra một lời tuyên chiến rằng "Ta (Lucifer) sẽ ở trên thiên đàng; ta sẽ khắc tên ta lên trên những vì sao của Thiên Chúa; ta sẽ ngồi trên vị trí lãnh chúa của mọi thứ, trên mọi đỉnh cao nhất của mọi ngọn núi linh thiêng nhất. Ta sẽ lên cao hơn các đám mây; ta sẽ như Đấng Tối cao."

Thiên Chúa cho Tổng lãnh thiên thần Michael chống lại Lucifer và bè lũ của y. Với quyền lực Chúa ban cho, Michael cùng các Thiên thần trung thành nhanh chóng chiến thắng Lucifer và bè lũ phản nghịch. Lúc đó, Lucifer được Michael đặt cho tên mới là Satan. Kết thúc trận chiến, Lucifer và tất cả các thiên thần theo y bị đuổi khỏi Thiên đàng như là một sự trừng phạt cho cuộc nổi dậy của chúng. Nhiều ngàn năm sau đó, Chúa Giêsu nói rằng Người đã thấy Lucifer bị ném xuống trái đất như một tia chớp giáng xuống mặt đất. Trong thế kỷ 13, theo Đức Giám mục của Tusculum (khoảng 1273) ước tính là 133.306.668 thiên thần đã bị đày xuống từ các thiên đàng trong tổng cộng 9 ngày, và con số này về sau được học giả thế kỷ thứ 15 Alphoso de Spina (khoảng 1460) tái xác nhận.

Theo Kinh Phật Nguyên Thủy

Giữa các Thiện Thần ở tầng trời Ba Mươi Ba (Tam thập tam thiên, hoặc tên khác: Tầng trời Đao Lợi) (1) và Các Ác Thần ở thế giới A-Tu-La thường xảy ra chiến tranh. Các Ác Thần A-Tu-La (có thần thông như các Thiện Thần cõi trời Ba Mươi Ba) thường gây chiến trước với cõi trời Ba Mươi Ba.

Thiện Thần cõi trời Ba Mươi Ba thường thắng trận, nhưng đôi khi cũng thua phải bỏ chạy.(2)

Đôi khi có Thiện Thần sợ chết không tuân lệnh Vua Sakka (vua cõi trời Ba Mươi Ba)  đi đánh nhau với A-Tu-La, như các thần Suvìra và Susìma. (3)

Trong cuộc chiến, các thần cũng bị phe đối phương bắt làm tù binh và có khi bị xử tử. Kinh có ghi laị trường hợp hai Thiện Thần Suriya và Candima thua trận bị Ràhu, vua A-Tu-La bắt làm tù binh. Hai vị này khấn lạy Phật xin được Phật cứu sống và được làm đệ tử Phật. Từ chỗ ngồi thiền định Phật nghe được lời cầu nguyện của hai vị, liền dùng thần thông ra lệnh cho Ràhu, vua A-Tu-La thả hai vị ra, vì họ đã quy y trở thành đệ tử của Ngài. Ràhu hoảng sợ vội thả Suriya và Candima. Thả xong hai vị, Ràhu vẫn chưa hết run sợ vội chạy đến bẩm báo với Vepacitti, Vua của các vua A-Tu-La: "... hốt hoảng, Ràhu đi đến Vepacitti, vua A-tu-la, run sợ, lông tóc dựng ngược".(4)

Có lần hai hai vua, vua Sakka (Thiên chủ cõi Tam thập tam thiên) và vua Vepacitti (A-Tu-La) quyết định chiến nhau bằng hình thức đấu khẩu. Vua nào nói được nhiều thần (cả hai phe) tán thưởng hơn thì vua đó thắng. Kết quả vua Sakka thắng.

------------

(1) Tầng trời Ba Mươi Ba là tầng trời thứ hai trong sáu cõi trời dục giới. Trên Tầng trời Ba Mươi Ba còn có 4 cõi trời dục giới khác.

(2) Kinh Tương Ưng Bộ / Tập I - Thiên Có Kệ / [11] Chương XI. Tương Ưng Sakka / Phẩm Thứ Nhất / VI. Tổ Chim

(3) Kinh Tương Ưng Bộ / Tập I - Thiên Có Kệ / [11] Chương XI. Tương Ưng Sakka / Phẩm Thứ Nhất / I. Suvìra (S.i,216);

Kinh Kinh Tương Ưng Bộ / Tập I - Thiên Có Kệ / [11] Chương XI. Tương Ưng Sakka / Phẩm Thứ Nhất / II. Susìma (S.i,217)

(4) Kinh Tương Ưng Bộ / Tập I - Thiên Có Kệ / [02] Chương II. Tương Ưng Thiên Tử / I. Phẩm Thứ Nhất (S.i,46) / IX. Candima (S.i,50) (Nguyệt Thiên tử, Tạp 22.8 Nguyệt Thiên tử, Ðại 2, 155a) (Biệt Tạp 9.7, Ðại 2, 436a);

Kinh Tương Ưng Bộ / Tập I - Thiên Có Kệ / [02] Chương II. Tương Ưng Thiên Tử / I. Phẩm Thứ Nhất (S.i,46) / X. Suriya: (S.i,51) Nhật Thiên tử]

(5) Kinh Tương Ưng Bộ / Tập I - Thiên Có Kệ / [11] Chương XI. Tương Ưng Sakka / Phẩm Thứ Nhất / V. Thắng Lợi Nhờ Thiện Ngữ (S.i,222)

Cư Sĩ
-