hot
Bài đăng nổi bật
TỦ SÁCH PHẬT HỌC DÀNH CHO SMARTPHONE
Trong cuộc sống hiện đại, sách điện từ đang dần thay thế sách giấy. Các tác phẩm Phật học, trong đó có Kinh Phật, cũng không ngoài quy luật ...
Tìm kiếm Blog này
Lưu trữ Blog
- tháng 11 2021 (1)
- tháng 8 2021 (3)
- tháng 6 2021 (1)
- tháng 5 2021 (4)
- tháng 2 2021 (1)
- tháng 10 2020 (6)
- tháng 9 2020 (5)
- tháng 7 2020 (3)
- tháng 5 2020 (2)
- tháng 4 2020 (8)
- tháng 3 2020 (9)
- tháng 2 2020 (67)
- tháng 1 2020 (255)
- tháng 12 2019 (102)
- tháng 11 2019 (5)
- tháng 10 2019 (22)
- tháng 9 2019 (37)
- tháng 8 2019 (31)
- tháng 7 2019 (4)
- tháng 1 2019 (8)
- tháng 7 2018 (2)
- tháng 2 2018 (1)
Từ khoá
random posts
Labels
Popular Posts
-
Tóm tắt I) Tạng Luật: Những quy định của Đức Phật về những gì tăng ni nên làm và không nên làm. II) Tạng Kinh: Nội dung Tứ Diệu Đế đượ...
-
KINH TIỂU BỘ Khuddhaka Nikàya Tập II Giáo sư Trần Phương Lan dịch Việt II.2 - CHUYỆN NGẠ QUỶ Phẩm III - Tiểu Phẩm -oo...
-
KINH TIỂU BỘ Khuddhaka Nikàya Tập II Giáo sư Trần Phương Lan dịch Anh-Việt CHUYỆN NGẠ QUỶ -ooOoo- GIỚI THIỆU ...
-
KINH TƯƠNG ƯNG BỘ Samyutta Nikàya Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt _______________________________ Mục lục các Tậ...
-
THU THÚC LỤC CĂN Việc thu thúc lục căn rất quan trọng. Toàn bộ đời sống của chúng ta từ phàm tới thánh (từ con dòi cho tới Phạm thi...
-
XEM KINH TĂNG CHI BỘ (Bản dịch Pali - Việt của Hoà Thượng Minh Châu) Chương Một Pháp VIDEO 01 1. PHẨM SẮC (Rūpādivaggo) 2....
-
KINH TĂNG CHI BỘ Anguttara Nikàya Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chương VI - Sáu Pháp PHẨM 06-12 -ooOoo- ...
-
Chùa Bửu Long quận 9 HCM I- ÐỊA CHỈ CHÙA NAM TÔNG TẠI SÀI GÒN QUẬN 2 CHÙA NGUYÊN THỦY 33-A đường 10,khu Phố 1, phường Cát Lái,...
-
Căn Bản Giáo Lý A Tỳ Đàm Sư Giác Nguyên giảng tại Tu viện Sydney Burmese Buddhist Vihara 65 Orchardleigh St, Yennora, NSW 2161 ngày ...
-
KINH TƯƠNG ƯNG BỘ Samyutta Nikàya Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt TẬP IV - THIÊN SÁU XỨ / CHƯƠNG 7 41. Tươn...
Phật
Tăng
Thần Thông
Thiên Giới
Chùa
Đọa Xứ
Video
(Hỏi - Đáp cùng sư Toại Khanh)
HỎI
Con có một thắc mắc : Bây giờ có nhiều người giỏi, nhiều người giàu rồi thì chư Phật cứu người nghèo, người thiếu, người dốt chứ cứu chi người giàu, người giỏi ạ ?
ĐÁP
Đó là lý luận một chiều. Cô phải có đất thì tôi mới giúp cô cất nhà được. Nếu cô không có đất thì cất ở đâu? Vật chất thì có thể nói như vậy được nhưng về tinh thần thì không. Về tinh thần mình phải có chủng tử thì mới giúp được.
Ví dụ 1 :
Cô vừa rủ 3 người đi shopping cần gì mua nấy mà cách đây 15 phút chính mắt tôi thấy cô mua cho 2 cô kia mỗi cô một đôi giày mà tại sao tôi cô không mua? Tại vì tôi cụt chân.
Sư : Vậy tôi hỏi cô tại sao cô mua cho 2 người không tật nguyền mà cô không mua cho người tật nguyền này ?
PT : Vì không có chân thì lấy gì mà mua.
Sư : Vừa rồi cô nói giúp cho người nghèo, người thiếu. Cho nên tùy mình phải biết họ thiếu cái gì và thiếu cỡ nào? Nếu cụt chân thì làm sao mình mua giày cho họ.
Ví dụ 2 :
Từ xưa tới giờ không ai mua keo xịt tóc cho tôi , tại sao vậy ? Vì tôi không có tóc .
Cho nên ai muốn giúp mình họ cũng phải coi mình có cái background gì thì họ mới giúp được.
Đạo giải thoát y chang như vậy. Muốn giúp cho họ giải thoát thì mình phải coi họ có căn hay không. Nếu họ không có căn thì giảng tới tết cái đầu của họ cũng cứ “đơ“ ra. Và nên nhớ thế này : Chư Phật không có vụ hà hơi tiếp sức độ cho người không muốn tu. Bằng chứng là nếu chư Phật có thể độ người không muốn tu thì hôm nay mình lên toà sen ngồi rồi. Có nhiều người nói Phật là vô biên, cầu thì Ngài sẽ giúp, họ tưởng nói như vậy là họ khen Phật. Nhưng thật ra đó là họ chửi Phật đó. Nếu nói Phật có thể độ mọi người thì tại sao thời Phật còn sống chó, heo, mèo, vịt nó đầy ra đó tại sao Phật không dùng phép biến nó thành tiên ? ! Nên nhớ lúc Phật còn, địa ngục vẫn tồn tại và có rất nhiều người ở dưới đó.
Đệ nhất thần thông bên tăng là ngài Mục Kiền Liên, dời non lấp biển giống như cái búng tay mà trớ trêu thay ngài cũng bị nạn bầm nát như tương hột. Đệ nhất bên ni là Liên Hoa Sắc cũng bị cưỡng hiếp. Cho nên tôi thù nhất cái vụ cầu an cầu siêu. Cái đó là do mình chế ra. Trong kinh tôi đố các vị tìm được bài kinh nào Phật và các vị thánh tăng đứng kế bên cái xác lạnh ngắt cầu nguyện cho cái xác đó đi lên cõi này cõi kia. Chuyện đó không bao giờ có. “Đã đi mất biền biệt sơn khê, cố nhân ơi bao giờ mới về“ Cho nên không có chuyện “ chú nguyện, thím nguyện“. Chuyện đó không bao giờ có.
Cầu an là người bị trọng bệnh, mình tới nói pháp cho họ nghe, an ủi cho họ đừng sợ, đừng buồn, để họ ổn định tâm lý. Còn tụng cho hết đau, hết bệnh mà nếu có chuyện đó thì Phật pháp khác nhiều lắm. Sanh, già, đau, chết, ... cứ đè ra mà tụng là xong hay sao?
Nguồn: toaikhanh.com
Giác Nguyên - Tăng
HỎI - ĐÁP cùng sư Toại Khanh
HỎI:
Sư có tin chuyện mình thờ Phật, đeo tượng Phật mà không sợ ma không?
ĐÁP:
Đức Phật còn bị ma phá nói gì mình. Dĩ nhiên Phật không sợ.
Tôi tin thờ Phật, ma vẫn phá, và tôi tin thờ Phật đúng cách thì không còn sợ ma nữa. Chuyện,ma có phá hay không, không quan trọng, quan trọng là ta có sợ hay không. Đây là kinh nghiệm bằng vàng đó là :
- Khi nào trước bàn thờ Phật mình không dám nghĩ bậy, làm bậy, nói bậy, mình có cảm giác rằng ngài đang ở trước mặt mình, thì mai này có sợ hãi gì, chỉ cần bước vào gian thờ, mình nhìn lên ngài thì mình vững bụng.Thờ Phật bằng kiến thức giáo lý của người Phật tử, mỗi lần lạy Phật là lạy với tất cả lòng kính thương và tri ân vô bờ đối với ngài, thờ như vậy thì không sợ ma.
Còn nếu mình thờ cho vui, thỉnh tượng đẹp, đắc tiền cho bằng chị bằng em, kiếm cặp đèn crystal kwarovski cho sang lên. Kiểu thờ này mai kia có lòng sợ hãi, có cảm giác cô đơn buồn tẻ, vào gian thờ, lòng sẽ không vơi giảm một tí nào.
Còn chuyện đeo tượng Phật trên người, tôi trăm ngàn vạn lần can bà con đừng đeo vì tới một ngàn lý do :
- Bức tượng mình đeo trên người là dễ bị mình lãng quên nhất. Mình đeo và mang ngài vô tất cả nơi chốn cực kỳ bất tịnh và chưa kể khi đeo bức tượng ngài trên người, thân mình bất tịnh và mình làm những chuyện bất tịnh, và bắt ngài phải chứng kiến những chuyện bất tịnh, như vậy có nên hay không?
- Tôn kính bậc đạo sư là phải học hiểu giáo lý đến mức độ khi cần nghĩ tới ngài thì mình có cảm giác ngài đang ở trước mặt mình, và mình đang quỳ trước mặt ngài thì đó gọi là lòng tôn kính.
- Tôn kính do hiểu ngài chứ không phải là do nghe tăng ni hù dọa.
- Tôn kính ngài là do hiểu được ngài, ngài đã vì mình, vì chúng sanh mà máu lệ vô số kiếp sanh tử, khi thành Phật rồi ngài giác ngộ tất cả mọi thứ ở đời : Cái gì ngài cũng biết, ai ngài cũng thương và đức lành nào ngài cũng có.
- Giáo lý càng nhiều, mình hiểu Phật càng sâu càng rộng thì lòng kính thương và tri ân nó mới bao la vô bờ.
* Với chánh pháp cũng vậy. Chánh pháp không phải nghe những lời kinh huyền diệu xa vời mông lung huyễn hoặc, mà chánh pháp chính là đạo sống, lẽ sống, là nguyên tắc sống, là chuẩn mực sống, để chúng ta theo đó làm cho mình trở nên tốt hơn, an lạc hơn và khiến những người quanh ta cũng vậy. Lòng tôn kính chánh pháp của chúng ta như thế nào thì hoàn toàn tuỳ thuộc vào khả năng hiểu biết nhận thức của chúng ta đối với giáo lý.
Dốt đặc như cán cuốc, kiến thức học le que như là lá me thì làm sao đối với chánh pháp bằng một lòng tôn kính.
Tại sao tôi thường nói quí vị làm gì thì làm phải có khái niệm về 4 Đế. Phải hiểu mọi thứ là khổ thì mình mới thấy được chánh pháp là đáng quí cỡ nào. Chánh pháp là con đường Đức Phật dạy mình tu được bao nhiêu thì bớt khổ bấy nhiêu.
- Đêm đêm lạy Phật phải nhớ : Phật là người đã thoát khổ, đã hành trì con đường thoát khổ và bản thân đã thoát khổ.
- Chánh pháp chính là nguyên tắc hành trì để không còn khổ nữa, dầu chư Phật ba đời mười phương, hay là người đệ tử nhỏ nhất của các ngài cũng đều phải hành trì con đường ấy để thoát khổ.
Thánh chúng đệ tử của Thế Tôn là những người đã hành trì con đường đó qua lời dạy của chư Phật, và đã hành trì thành công thành tựu. Chứ còn lơ mơ như mình thì chưa được gọi là thánh chúng.
- Chúng ta phải nhớ rằng đâu đó dưới gầm trời này, và trong vô lượng vũ trụ hiện đã đang và sẽ - có vô số thánh chúng của chư Phật ba đời mười phương, những người lắng nghe chư Phật, hiểu chánh pháp và thực hiện đúng mức để không còn tiếp tục mê lầm điên đảo mộng tưởng nữa.
HỎI:
Điên đảo mộng tưởng là sao?
ĐÁP:
Là trong cái vô thường thấy rõ nó là vô thường, trong cái khổ biết rõ nó là khổ, trong cái vô ngã biết nó là vô ngã, trong cái bất mỹ bất tịnh biết nó là bất mỹ bất tịnh.
Có thờ Phật, thờ tam bảo như vậy mới được gọi là cung kính đạo sư, cung kính chánh pháp và cung kính chúng tăng.
Còn mình thấy đầu không tóc, quấn y vàng, rồi quỳ lại, bởi vì nghe nói đó là phước điền, đó là ruộng phước thì kẹt quá. Mình đến với nhau dễ quá, mai này mình cũng bỏ nhau dễ lắm quí vị biết không.
Mình không học giáo lý, mình lạy Phật một cách đơn giản, lạy thầy tu, tăng, ni một cách đơn giản, mai này mình cũng lìa bỏ tam bảo một cách rất đơn giản.
Mình muốn cưới nhau thì phải tìm hiểu nhau, để rồi mai này có mất nhau rồi mình vẫn còn tiếp tục nhớ nhau. Còn tìm hiểu nhau, đến với nhau dễ dàng, thì sớm muộn cũng dễ dàng mất nhau như đã dễ dàng lấy nhau.
Nguồn : http://toaikhanh.com
Giác Nguyên - Tăng
Thưở xưa tại Bārānasī có một nhà vua tên Dandakī hoàng thành của ông ta tên Kumbhavatī . Cả ông ta lẫn thần dân trong xứ đều là những người tà kiến.
Ngày kia có một vị đạo sĩ tên Kisavaccha từ bờ sông Godhavarī đến ngự uyển của vua Dandakī để trú ngụ. Tại đây Ngài được vị tướng soái của vua hộ độ . Điều cần nhớ là đạo sĩ Kisavaccha đã chứng đạt ngũ thông bát định.
Thế rồi một hôm trong cung của vua Dandakī có một nàng phi tầng bị thất sủng , nghĩa là nàng không được nhà vua tin yêu như trước nữa và đuổi ra khỏi hoàng cung . Buồn nản cùng cực , nàng phi tầng bất hạnh ấy đi vào ngự uyển , chỗ ngụ của đạo sĩ Kisavaccha . Bất chợt trong thấy ngài , nàng ta suy nghĩ “ Mấy ông thầy tu này là những tên xúi quẩy nhất đây , nếu ta đem đồ dơ ra đổ trên đầu ông này thì kể như mọi xui xẻo cũng được giải trừ “.
Nghĩ vậy rồi nàng phi tầng đi lấy đồ đánh răng xúc miệng trên đầu vị đạo sĩ và ném luôn bàn chải lên đầu ngài rồi đi tắm rửa.
Và hôm sau nhà vua nhớ đến nàng phi tầng thất sủng nọ bèn gọi vào cung phục hồi địa vị . Đó là một việc tình cờ nhưng nàng phi tần cứ ngỡ là do mình đã làm hành động xả xui nơi vị đạo sĩ.
Không bao lâu vua lại thải hồi cả vị quan giáo sĩ cho về vườn làm dân . Ông này tìm tới nàng phi tần kia và hỏi thăm nàng đã làm thế nào để được vua tin yêu trở lại như vậy . Nàng ta bèn kể lại việc mình làm nhục vị đạo sĩ trong ngự uyển . Ông quan giáo sĩ làm theo đó và lạ thay mấy hôm sau vua lại gọi ông ta vào triều phục chức như cũ.
Thật ra trường hợp may mắn của nàng phi tần , ông quan giáo sĩ nọ là do phước cũ đời trước chớ nào phải do hành động vô nhân của họ đối với đạo sĩ , nhưng vì ngây ngô dựa vào sự việc trước mắt ấy nên cả hai người đều tin rằng nhờ hành động vô nhân đó mà họ được đắc sủng .
Thế rồi vua Dandakī nhận được tin là ở vùng biên thuỳ có phiến loạn , ông ta bèn chuẩn bị cắt quân đi bình định . Trước khi lên đường theo lời Khải tấu của quan giáo sĩ . Vua Dandakī kéo quân lính vào ngự uyển lấy bàn chải xúc miệng trên đầu đạo sĩ Kisavaccha rồi bao nhiêu bàn chải của ông ta cùng quân lính khi xài xong đều đem vất lên đầu ngài , sau đó cả bọn đi tắm rửa sạch sẽ rồi bắt đầu tiến ra biên thuỳ . Trong trận đánh ấy với quân phiến loạn , vua Dandakī đã chiến thắng một cách dễ dàng vì cuộc chiến giữa đôi bên chỉ diễn ra trong bảy ngày rồi kết thúc.
Nói về vị tướng soái của vua Dandakī ,sau khi vua cùng quân lính rút đi rồi , đã đi vào tắm rửa săn sóc cho vị đạo sĩ thầy mình rồi an ủi ngài. Vị đạo sĩ bảo :
- Chư thiên trong xứ này đã nổi giận trước hành động hỗn xược của vua quan dân chúng đối với ta nên các vị đã quyết định rằng một tuần lễ nữa sẽ giáng đại họa xuống đất nước này ; do đó ông hãy cùng gia quyến tranh thủ rời khỏi nơi đây càng sớm càng tốt.
Tới ngày vua Dandakī dẫn quân trở về , dầu được quan tướng soái cho biết sự kiện sắp xảy ra ông ta cũng chẳng tin , và cứ mở đại yến ăn mừng ; vị tướng soái lập tức đưa gia đình của mình bỏ xứ ra đi . Thế rồi lúc đó trên bầu trời của kinh đô Kumbhavati bỗng dưng vần vũ tối đen rồi một cơn mưa đổ ập xuống , lúc đầu là nước , sau đó là cát , bông hoa rồi đến vàng bạc cùng các món trang sức xin đẹp quý giá . Mọi người thấy vậy liền bỏ chạy ra đường để nhặt lấy.
Ngay lúc ấy từ trên không trung , các món vũ khí bén nhọn rơi xuống tới tấp trên đầu họ. Thế là chỉ trong giây lát cả kinh thành Kumbhavatī đầy dẫy những xác chết .
Trước khi cơn mưa đổ xuống , thầy của đạo sĩ Kisavaccha là sư trưởng Sarabhanga đã biết được sự việc và sai hai đạo sĩ khác đến cứu Kisavaccha bằng thần thông.
Nói về vua Dandakī cùng toàn thể thần dân ác kiến của mình sau khi chết đau đớn như vậy đã sanh vào địa ngục Kukula.
Chép từ Tác Phẩm Chúng Sanh Và Sanh Thú
Biên Soạn : Saddhammajotika
Dịch Việt : Tỳ Khưu Giác Nguyên
Nguồn: fb Simsapa
Sách
Toại Khanh
Tôi đi xa mới về. Thùng thư trước nhà đầy ắp, cả cái hộp thư riêng ở bưu điện cũng không còn chỗ nhét. Ngoài phần lớn những thứ đáng vất, từ cả hai thùng thư, tôi có trên mười cái thư và vài gói bưu phẩm không thể không mở ra. Thiệp xuân, rồi thì vài cái hóa đơn, dăm ba món quà Tết của mấy người thân sơ đâu đó, có gói thức ăn đã bắt đầu hư. Nhưng gì cũng là ân tình, tôi xếp hết lên bàn rồi đi ngủ.
Ba giờ sáng, tôi thức giấc vì một cơn khát cháy cổ. Đã nói giờ tôi cứ như người già, bất luận mấy giờ đêm, dậy rồi thì khó mà ngủ lại. Như một thói quen lâu ngày, tôi thả mình xuống chiếc ghế ở bàn viết, ngó quanh và rồi giật mình nghĩ đến một chuyện thiệt lãng mà cũng dễ sợ. Nếu trong chuyến đi vừa rồi tôi có mệnh hệ gì thì ai sẽ là người mở giùm hai thùng thư, rồi họ sẽ làm gì với mấy thứ trong đó. Cả mấy cái email trong máy, rồi một trang blog như gian phòng riêng trên internet, nơi tôi vẫn xem là chốn dung thân sau cùng để gặp gỡ ai đó. Tất cả sẽ mãi mãi là một bí mật, khi đến chính tôi còn lắm khi quên mất password. Mỗi ngày trên hành tinh này đã và đang có bao nhiêu những hộp thư trên internet vĩnh viễn không còn người đọc, người duy nhất có thể mở ra cõi riêng ấy đã không còn dịp trở về. Ai trong thời buổi này lại không có những chuyện riêng tư trên internet, ai lại chẳng nóng lòng muốn đọc một vài cái email, hay nôn nao chờ về đến nhà rồi nhảy bổ đến bàn viết để vào thăm trang blog của mình. Nhưng có ai ngờ trước rằng mình sẽ chẳng bao giờ còn có cơ hội đó nữa. Từng người luôn có sẵn những hành trình đang đợi chờ phía trước, những cuộc đi có thể là không hẹn được ngày trở lại. Nếu có chuyện tái sinh, trong vòng quay bất tận của những chu kỳ thành hoại của trời đất, ngày họ quay lại được có thể đang là lúc con người trên mặt đất này đang ở vào một thời điểm văn minh hơn bây giờ gấp triệu lần, hay lại đang trong thời kỳ nhân loại chỉ còn biết có lửa rừng và hang đá. Mọi ấn tích hôm nay, khi ấy chỉ còn là cát bụi hay những mẩu hóa thạch ngậm ngùi câm lặng. Bao nhiêu những hò hẹn, hờn dỗi, yêu đương, thù hận, toan tính thiện ác,…trong cái gọi là internet gì đó của ngày nào đều trở về với cõi không. Trong đó có cái đã được biết đến, và cả những thứ chưa một lần được ghé mắt.
Trong một bối cảnh ngược lại, nhân loại ngày sau có thể tìm lại được tất cả những gì đã từng được lưu trữ trong nền văn minh điện toán hôm nay, và có thể đọc hiểu trọn vẹn những tâm tình của người xưa. Và thử hỏi những người xưa ấy lúc này đã ra sao. Lại vẫn là những huyền thoại như dấu vết của vua Tutankhamon trên Kim Tự Tháp bây giờ. Suy cho cùng, mọi toan tính lo liệu của nhân sinh chỉ là một cuộc chơi phù du của vạn hữu.
Tôi từng đọc thấy ở đâu đó một kiểu phân loại thời gian khá lạ lùng, nhưng xác đáng và cứ bắt tôi phải suy nghĩ. Đó là thứ thời gian sinh học, Biological Time, được tính trên từng diễn biến sinh hóa của mọi loài sinh vật trên trái đất. Từ những khoảnh khắc biến diệt của mỗi tế bào trong từng giây đồng hồ, cho đến cái gọi là kiếp người trăm năm. Loại thời gian thứ hai là Geographical Time, tạm hiểu là thứ thời gian địa quyển, tính trên những biến động lâu dài của lớp vỏ trái đất, gồm những cuộc chìm nổi của các lục địa, sự hình thành của bao thứ trầm tích, hóa thạch,... Và trong loại thời gian này, vài ba thế kỷ chỉ là một nháy mắt. Nói ra có vẻ cải lương, bên cạnh kinh Phật, tôi vẫn nhớ hoài mấy câu thơ muốn quên cũng khó. Ông Trần Tế Xương thì phải, từng có 4 câu này, ai nghe qua một lần cũng thuộc:
“Sông kia rày đã lên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Đêm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò!”
Rồi thì ông Vũ Hoàng Chương, nghe thơ mộng hơn một chút nhưng cũng buồn nẫu ruột:
“Ta còn để lại gì không
Kìa non đá lở, nọ sông cát bồi”.
Và thi sĩ Phạm Thiên Thư nói về chuyện đó theo cách riêng của mình:
“Cuộc đời chớp lóe mưa bay
Càng đi, càng thấy dặm dài nỗi không…”
Nhưng rồi, mọi sự không phải chỉ là những ngậm ngùi hiu hắt đó. Ở đây tôi phải nhớ ơn một nhà thơ Cơ-đốc là Nguyên Sa, khi ông nhắc tôi rằng thực ra tôi vẫn còn đó một phương trời Nhị Đế. Tôi đọc ông, rồi thở phào. Phải vậy chứ, nếu không ai chịu sao nổi. Ông nói: “Cuộc đời dẫu có phù vân, ở trong mây nổi có phần thiên thu!”. Câu đó hiểu sao cũng xong. Tôi e thuở sinh tiền nhà thơ họ Nguyễn chẳng có nhiều dịp biết đến giáo lý A-tỳ-đàm, từ đó có lẽ cũng không ngờ mình đã gửi tặng Phật giáo một câu thơ hay. Từ chiều sâu hun hút và một độ cao ngút ngàn, trong giáo nghĩa Chân Đế không hề tồn tại một khái niệm thời gian nào hết. Ngày đêm, bốn mùa, trước sau, nhanh chậm,...đều chỉ là những quan niệm giả lập y cứ trên sự tồn tại và biến mất của cái gì đó. Lúc này người ta đang quẩn quanh trong cảnh giới của Thi Thiết, Chế Định (paññatti), Biến Kế (parikappa). Rõ ràng trong kinh xưa, đức Phật không nói nhiều về thời gian, chỉ trừ trường hợp chẳng đặng đừng. Điều Ngài đặc biệt nhấn mạnh luôn là những gì người ta sống và làm trong cái gọi là thời gian ấy. Khái niệm năm ba ngàn năm gì đó thực ra chẳng là gì, chỉ có Vạn Lý Trường Thành, Kim Tự Tháp, Kinh Thánh, Kinh Phật mới là đáng nói, vấn đề là từng người trước khi về đất đã để lại gì sau lưng mình. Thuở bình sinh, ai cũng ăn nhờ ở đậu trên những gia tài di sản của tiền nhân, trước ngày nằm xuống cũng xin làm ơn để lại chút gì cho lớp hậu tấn như một kiểu sống sòng phẳng. Và nếu chuyện tái sinh là có thật, biết đâu trong đám hậu sinh kia lại có cả chính mình. Thế là, nói như ông Nguyên Sa, cuộc đời dẫu có phù vân, ở trong mây nổi có phần thiên thu..!
Một cái email, dăm ba hàng chữ trong một trang blog, một bài thơ ngắn trong website, một công trình lớn ngoài đời,…đều là những gì ta để lại cho nhân gian. Không có gì là nhỏ hay lớn, chỉ có cái tác dụng của nó là lợi hay hại, ít hay nhiều mà thôi. Một cái email có thể nguy hiểm như một viên đạn pháo, mà cũng có thể là một liều thuốc cứu mạng một người hấp hối. Cái email đó có thể không kịp có người đọc, trang blog đó có thể sẽ vĩnh viễn đóng cửa, nhưng cái tâm tình hay cái tấm lòng của người viết nên chúng không phải là vô nghĩa, bất luận là tốt hay xấu. Cái hạnh phúc lớn nhất của một kiếp người, theo tôi, là giả dụ có một ngày nằm xuống trên đường, chưa kịp về đến nơi chốn đã định, người ta vẫn có thể yên tâm với những gì mình đã hoàn tất hay còn đang dở dang. Chỉ vì họ đã làm những việc lớn nhỏ đó bằng tất cả tâm tình đẹp nhất. Chẳng hiểu mắc chứng gì, hay do mới chia tay một người tín hữu Cơ-đốc trên đường, mấy ngày nay nói gì thì tôi cũng cứ nhớ Chúa. Bà sơ Theresa, một người từng lãnh giải Nobel hòa bình, có một câu nói hay không tả được: “Chúng ta có thể không làm được chuyện gì lớn lao, nhưng hoàn toàn có thể làm việc gì đó với một trái tim vĩ đại. Đó chính là cái chìa khóa, là lời giải thích vì sao có người vẫn bất tử giữa dòng đời sinh hóa phù du”.
Ta rồi sẽ gặp lại ta, gặp lại chính mình trong một hậu thân khác. Ta rồi cũng gặp lại em, người mà ta đã một lần buồn vui với những ân oán tình thù. Tử sinh không nên có những hò hẹn, ai thoát ra được thì nên mừng giùm cho nhau. Có điều là, nếu một ngày em ghé lại lều cỏ của tôi, khi tôi đã là viễn khách ở một phương trời khác, một bầu nước sạch với mấy vốc gạo trắng cùng một góc nến đủ đốt qua đêm, có phải là một món quà lớn ra để lại cho nhau không hả? Ừ thì, cuộc đời dẫu có phù vân…
Trích từ Tác Phẩm Chuyện Phiếm Thầy Tu của Sư Toại Khanh
Nguồn: fb Simsapa
Giác Nguyên - Sách
Tùy vào khuynh hướng tâm lý mà đường lối nhận thức cũng như kiểu tu hành của mỗi người không giống nhau. Chúng sanh trong đời có hai hạng, một hạng biết sợ sinh tử chán hiện hữu và một hạng thì muốn đời đời sống hoài.
Từ khuynh hướng tâm lý này mới dẫn đến việc họ đi tìm đến tôn giáo nào có thiên đường. Chết là được lên thiên đường diện kiến nhan thánh Chúa. Còn thiên đường của bên Hồi giáo thì nghe khoái lắm, nếu sống đạo hết lòng, khi chết về trời thì mỗi người đàn ông sẽ được tưởng thưởng 47 cô tiên đẹp như mơ xinh như mộng. Trên đó có những dòng sông đầy ắp rượu ngon tùy khẩu vị của mỗi người. Dưới trần thích uống rượu gì thì khi lên trên cứ đưa cái ấm xuống dưới sông múc là có ngay rượu đó mà uống. Say sưa rồi lết ngược lên thảm cỏ, ngắm trời xanh mây trắng nắng vàng với 47 người đẹp bên cạnh tha hồ hưởng thụ.
Theo tinh thần PG, mọi hình thức hiện hữu dầu đắng hay ngọt đều là vô nghĩa. Nếu có huệ căn một tí mình sẽ thấy ngay tại sao vô nghĩa. Bởi vì, nếu như sống hoài không chết, cứ sống hoài bên cạnh người mình thương, có được cái mình thích, ở được chỗ mình muốn, rồi cứ mãi như vậy hoài không có lúc kết thúc thì sẽ được gì. Bậc thượng trí không muốn như vậy, vì đó là sự lặp lại tẻ nhạt. Còn hạng chúng sanh bình thường hạ căn kém trí thì lại khoái như vậy.
Từ đâu ra những nhận thức khác biệt như vậy? Bởi vì, người có niệm có tuệ thường sống tỉnh thức, bình tĩnh tỉnh táo quan sát nhìn ngắm từng cảm xúc buồn vui của mình, thì họ mới có dịp chán. Còn người sống như trẻ con hồn nhiên thơ ngây giao phó niềm tin cho cuộc đời thì mới tin yêu được nó.
Tôi nghĩ trong room này dù không mong là tất cả nhưng chắc cũng có người đồng ý với tôi.
Có người ngồi giữa căn nhà bạc triệu, nhìn ra ngoài garage có mấy chiếc xe đắt tiền; nhìn cảnh bà vợ nấu ăn, dọn ra cho sấp nhỏ, chúng ăn no xong để đống chén cho má rửa rồi nhào qua chơi game hay học bài. Ông chồng ngồi nhìn cảnh đó nghĩ mà chán khi cứ mỗi ngày đem tiền về, và nhịp sống cứ thế lặp lại. Rảnh thì bạn bè a lô, email, facebook, chít chat. Có bữa hàng xóm bấm chuông kêu cửa, họ đem qua cho một ổ bánh hay hũ mứt. Miệng nói câu cảm ơn, trong bụng nghĩ mai này làm món gì đó thì sẽ đem qua đáp lễ.
Rồi thì những buổi tối quây quần ấy cũng kết thúc. Đàn con cũng lớn lên, trai có vợ, gái có chồng, rời nhà xây tổ ấm riêng. Còn lại hai vợ chồng già ở với nhau, chờ đến lúc vô nhà già nằm. Rồi thì đến ngày ngáp ngáp, ai đi trước thì đi. Người đi sớm thì không nói gì, người đi trễ thì một ngày nọ trở nên lẫn. Mắt kèm nhèm ngó mông ra đường, gặp ai cũng gật cũng lắc, miệng nói những lời vô nghĩa. Rồi một đêm tối mùa đông, y tá đến rờ thấy lạnh. Thế là xong. Báo tin cho những người con. Rồi đem đi thiêu, đem đi chôn. Hết thế hệ này qua thế hệ khác, những đứa con cũng lặp lại cảnh cũ. Nhiều người thấy cảnh như vậy mà ngán.
Tôi ở Thụy Sĩ thấy cảnh như vậy nhiều lắm. Những ngày mùa đông, tuyết phủ trắng trời trên những ngọn đồi, những ông cụ bà lão khập khiểng bước thấp bước cao đẩy chiếc xe shopping cart đi chợ. Họ không có con cháu hoặc con cháu ở xa. Tự mình kéo chiếc xe lên dốc ì à ì ạch, cặp mắt lờ đờ mờ đục, mở cửa bước vào nhà. Rồi khói tỏa ra từ ống khói trên nóc nhà, một con mèo nhảy vụt qua cửa sổ ‘ngao’ lên một tiếng. Tuyết vẫn rơi lất phất ngoài sân, có tiếng chó sủa xa xăm vọng lại.
Quí vị hỏi sao tôi tả kỹ vậy. Bởi nó diễn ra trước mắt tôi. Tôi thấy hết. Tôi nghĩ, trời đất ơi, mình vô room giảng thế này, bây giờ đã năm mươi, rồi mai kia sáu mươi, rồi sáu lăm, nếu không ngưng cứ giảng hoài. Rồi có một ngày quí vị thấy tôi không vô. Quí vị gọi phone cho người gần bên hỏi sao hôm nay sư không vô, liên lạc cũng không được. Người ở gần xách xe chạy tới. Quí vị vẫn còn mở room chờ. Họ báo: He died rồi. Rồi trong room có mấy người đưa mấy cái bông lên. Rồi có mấy người ‘Sādhu!’. Ai chớ VN mình là vua sādhu. Rồi họ nói, sư mất rồi, thôi bà con đóng room đi. Từ nay về sau không có vô nữa. Rồi lại sādhu sādhu, chúc cho sư thượng lộ bình an, chân cứng đá mềm, sanh về cảnh giới an lạc….
Giống như sư Thiện Minh đó, bây giờ người ta quên sạch rồi, đâu có ai nhớ nữa. Cúng thất cúng giỗ thì làm cũng xôm tụ lắm, nhưng đâu được ít lâu, lên Facbook thấy mất tiêu. Cũng một thời lừng lẫy, cũng đẹp trai, răng trắng, môi hồng, trán rộng mà bây giờ không còn ai nhớ. Chùa miểu thì thay đổi trụ trì khác. Thế là xong, chỉ còn là bóng mờ trong sa mạc thôi.
Cho nên, bậc thượng căn không cần phải chiến tranh khói lửa máu lệ tùm lum, không cần phải sanh ly tử biệt, chỉ cần nghĩ về cuộc đời như vậy là họ nổi da gà rồi.
#NhậtKýChépBằngKinh_Tập 19
Sư Giác Nguyên (giảng)
New Dharma Readers
Giác Nguyên - Tăng
VIDEO 01
01. Kinh Phạm võng (Brahmajàla Sutta)
VIDEO 02
Kinh Phạm võng (tiếp)
02. Kinh Sa-môn quả (Sàmanna-Phala Sutta)
VIDEO03
Kinh Sa-môn quả (tiếp)
VIDEO 04
03. Kinh A-ma-trú (Ambattha Sutta)
04. Kinh Chủng Ðức (Sonadanda Sutta)
VIDEO 05
05. Kinh Cứu-la-đàn-đầu (Kutadanta Sutta)
06. Kinh Ma-ha-li (Mahàli Sutta)
VIDEO 06
07. Kinh Cha-li-da (Jàliya Sutta)
08. Kinh Ca-diếp Sư tử hống (Kassapa-Sìhanàda Sutta)
09. Kinh Bố-sá-bà-lâu (Potthapàda Sutta)
VIDEO 07
10. Kinh Tu-ba (Subha Sutta)
11. Kinh Kiên cố (Kevaddha Sutta)
VIDEO 08
12. Kinh Lô-hi-gia (Lohicca Sutta)
13. Kinh Tam minh (Tevijja Sutta)
VIDEO 09
14. Kinh Ðại bổn (Mahà-Padàna Sutta)
VIDEO 10
Kinh Ðại bổn (tiếp)
VIDEO 11
Kinh Ðại bổn (tiếp)
VIDEO 12
15. Kinh Ðại duyên (Mahà-Nidàna Sutta)
VIDEO 13
Kinh Ðại duyên (tiếp)
VIDEO 14
Kinh Ðại duyên (tiếp)
VIDEO 15
16. Kinh Ðại Bát-niết-bàn (Mahà-parinibbàna Sutta)
VIDEO 16
Kinh Ðại Bát-niết-bàn (tiếp)
VIDEO 17
Kinh Ðại Bát-niết-bàn (tiếp)
VIDEO 18
Kinh Ðại Bát-niết-bàn (tiếp)
VIDEO 19A
Kinh Ðại Bát-niết-bàn (tiếp)
VIDEO 19B
Kinh Ðại Bát-niết-bàn (tiếp)
VIDEO 20
Kinh Ðại Bát-niết-bàn (tiếp)
VIDEO 21
18. Kinh Xà-ni-sa (Janavasabha Sutta)
VIDEO 22
19. Kinh Ðại Ðiền-tôn (Mahà-Govinda Sutta)
20. Kinh Ðại hội (Mahà-Samaya Sutta)
VIDEO 23
21. Kinh Ðế-thích sở vấn (Sakka-panha Sutta)
VIDEO 24
Kinh Ðế-thích sở vấn (tiếp)
VIDEO 25
22. Kinh Ðại niệm xứ (Mahà-Satipatthàna Sutta)
VIDEO 26
Kinh Ðại niệm xứ (tiếp)
VIDEO 27
Kinh Ðại niệm xứ (tiếp)
VIDEO 28
Kinh Ðại niệm xứ (tiếp)
VIDEO 29
Kinh Ðại niệm xứ (tiếp)
VIDEO 30
Kinh Ðại niệm xứ (tiếp)
VIDEO 31
Kinh Ðại niệm xứ (tiếp)
VIDEO 32
Kinh Ðại niệm xứ (tiếp)
VIDEO 33
Kinh Ðại niệm xứ (tiếp)
VIDEO 34
Kinh Ðại niệm xứ (tiếp)
VIDEO 35
Kinh Ðại niệm xứ (tiếp)
VIDEO 36
Kinh Ðại niệm xứ (tiếp)
VIDEO 37
Kinh Ðại niệm xứ (tiếp)
VIDEO 38
Kinh Ðại niệm xứ (tiếp)
VIDEO 39
23. Kinh Tệ-túc (Pàyàsi Sutta)
VIDEO 40
Kinh Tệ-túc (tiếp)
24. Kinh Ba-lê (Pàtika Sutta)
VIDEO 41
25. Kinh Ưu-đàm-bà-la Sư tử hống (Udumbarika-Sìhanàdà Sutta)
VIDEO 42
26. Kinh Chuyển luân thánh vương Sư tử hống (Cakkavatti-Sìhanàda Sutta)
VIDEO 43
27. Kinh Khởi thế nhân bổn (Agganana Sutta)
VIDEO 44
28. Kinh Tự hoan hỷ (Sampasàdaniya Sutta)
VIDEO 45
29. Kinh Thanh tịnh (Pàsàdika Sutta)
VIDEO 46
30. Kinh Tướng (Lakkhana Sutta)
VIDEO 47
Kinh Tướng (tiếp)
VIDEO 48
31. Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt (Singàlovàda Sutta)
VIDEO 49
Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt (tiếp)
VIDEO 50
32. Kinh A-sá-nang-chi (Atànàtiya Sutta)
VIDEO 51
33. Kinh Phúng tụng (Sangiti Sutta)
VIDEO 52
Kinh Phúng tụng (tiếp)
VIDEO 53
Kinh Phúng tụng (tiếp)
VIDEO 54
Kinh Phúng tụng (tiếp)
VIDEO 55
Kinh Phúng tụng (tiếp)
VIDEO 56
Kinh Phúng tụng (tiếp)
VIDEO 57
Kinh Phúng tụng (tiếp)
VIDEO 58
Kinh Phúng tụng (tiếp)
VIDEO 59
Kinh Phúng tụng (tiếp)
VIDEO 60
34. Kinh Thập thượng (Dasuttara Sutta)
VIDEO 61
Kinh Thập thượng (tiếp)
VIDEO 62
Kinh Thập thượng (tiếp)
VIDEO 63
Kinh Thập thượng (tiếp)
VIDEO 64
Kinh Thập thượng (tiếp)
VIDEO 65
Kinh Thập thượng (tiếp)
VIDEO 66
Kinh Thập thượng (tiếp)
VIDEO 67
Kinh Thập thượng (tiếp)
VIDEO 68
Kinh Thập thượng (tiếp)
VIDEO 69
Kinh Thập thượng (tiếp)
VIDEO 70
Kinh Thập thượng (tiếp)
VIDEO 71
Kinh Thập thượng (tiếp)
VIDEO 72
Kinh Thập thượng (tiếp)
VIDEO 73
Kinh Thập thượng (tiếp)
VIDEO 74
Kinh Thập thượng (tiếp)
VIDEO 75
Kinh Thập thượng (tiếp)
VIDEO 76
Kinh Thập thượng (tiếp)
VIDEO 77
Kinh Thập thượng (tiếp)
VIDEO 78
Kinh Thập thượng (tiếp)
--- oOo ---
Giác Nguyên - Pháp
Chương Một Pháp
VIDEO 011. PHẨM SẮC (Rūpādivaggo)
2. PHẨM ĐOẠN TRIỀN CÁI (Nīvaraṇappahānavaggo)
VIDEO 02
2. PHẨM ĐOẠN TRIỀN CÁI (tiếp)
3. PHẨM KHÓ SỬ DỤNG Akammaniyavaggo
4. PHẨM KHÔNG ĐIỀU PHỤC Adantavaggo
5. PHẨM ĐẶT HƯỚNG VÀ TRONG SÁNG Paṇihitaacchavaggo
6. PHẨM BÚNG NGÓN TAY Accharāsaṅghātavaggo
VIDEO 03
7. PHẨM TINH TẤN Vīriyārambhādivaggo
8. PHẨM LÀM BẠN VỚI THIỆN Kalyāṇamittādivaggo
VIDEO 04
10. PHẨM PHI PHÁP
12. PHẨM VÔ PHẠM
13. PHẨM MỘT NGƯỜI
VIDEO 05
PHẨM NGƯỜI TỐI THẮNG
- Anna Kondanno (A-nhã Kiều-trần-như) - lâu ngày tối thắng
- Sàriputta - trí tuệ tối thắng
- Mahàmoggalàna - thần thông tối thắng
VIDEO 06
PHẨM NGƯỜI TỐI THẮNG (tiếp)
- Mahàkassapa - hạnh đầu đà tối thắng
- Anuruddha - thiên nhãn tối thắng
- Bhaddiya Kàligodhàputta - quý tộc tối thắng
- Lakuntaka (người lùn) Bhaddiya - âm thanh vi diệu tối thắng
- Pindola Bhàradvàja - tiếng rống sư tử tối thắng
- Punna Mantàniputta - thuyết pháp tối thắng
- Mahàkaccàna - thuyết giảng rộng rãi những điều vắn tắt tối thắng
VIDEO 07
PHẨM NGƯỜI TỐI THẮNG (tiếp)
- Cullapanthaka - dùng ý hóa thân tối thắng
- Cullapanthaka - thiện xảo về tâm thắng tiến tối thắng
- Mahàpanthaka - thiện xảo về tưởng thắng tiến tối thắng
- Subhuti - trú không có tranh luận tối thắng
- Subhuti - đáng được cúng dường tối thắng
- Revata Khadiravaniya - tu ở rừng tối thắng
- Kankha Revata - tu Thiền, tối thắng
- Sono Koliviso - tinh cần tinh tấn tối thắng
- Sono Kutikanna - khéo nói tối thắng
VIDEO 08
PHẨM NGƯỜI TỐI THẮNG (tiếp)
- Sivali - nhận được đồ cúng dường tối thắng
- Vakkali - có tín thắng giải tối thắng
- Ràhula - ưa thích học tập tối thắng
- Ratthapàla - xuất gia vì lòng tin tối thắng
- Kunda Dhàna - đầu tiên nhận phiếu ăn tối thắng
- Vangìsa - đầy đủ biện tài tối thắng
- Upasena Vangantaputta - dễ mến toàn diện tối thắng
- Dabba Mallaputta - sửa soạn chỗ ngồi, chỗ nằm tối thắng
VIDEO 09
PHẨM NGƯỜI TỐI THẮNG (tiếp)
- Pilindavaccha
- Bàhiva Daructriya
- Kumara Kassapa
- Màhàkotthita
- Ananda
VIDEO 10
PHẨM NGƯỜI TỐI THẮNG (tiếp)
- Ananda
- Uruvelakassapa
- Kaludayi
- Sophita
- Upali
VIDEO 011
PHẨM NGƯỜI TỐI THẮNG (tiếp)
- Nandaka - giáo giới Tỷ-kheo-ni tối thắng
- Nanda - hộ trì các căn môn tối thắng
- Sàgata - thiện xảo về hỏa giới tối thắng
- Màhakappina - giáo giới tỷ-kheo tối thắng
- Ràdha - năng khởi biện tài tối thắng
- Mogharàjà - mang thô y tối thắng
VIDEO 012
PHẨM NGƯỜI TỐI THẮNG - TỶ KHEO NI
- Màhàpàjapati Gotamì - lâu ngày tối thắng
- Khemà - đại trí tuệ tối thắng
- Uppalavannà - thần thông tối thắng
- Patàcàrà - trì Luật tối thắng
- Dhammadinnà - thuyết pháp tối thắng
VIDEO 013
PHẨM NGƯỜI TỐI THẮNG - TỶ KHEO NI (tiếp)
- Nandà - tu Thiền tối thắng
- Sonà - tinh cần tinh tấn tối thắng
- Sakulà - thiên nhãn tối thắng
- Bhaddà Kundalakesà - có thắng trí mau lẹ tối thắng
- Bhaddà Kapilànì - nhớ đến các thời quá khứ (túc mạng thông) tối thắng
- Bhaddà Kaccana - đã chứng đạt đại thắng trí tối thắng
- Kisàgotami - mang thô y tối thắng
- Sigalàmàtà - đầy đủ tin thắng giải tối thắng
NAM CƯ SĨ (1-10 )
1. Tapassu Bhallikà - quy y đầu tiên tối thắng (các người buôn bán)
2. Sudatta Anàthapindika - bố thí tối thắng
VIDEO 014
PHẨM NGƯỜI TỐI THẮNG - NAM CƯ SĨ (tiếp)
3. Citta Macchikassandika - thuyết pháp tối thắng
4. Hatthaka Alavaka - nhiếp phục một hội chúng nhờ Bốn nhiếp pháp tối thắng
5. Mahànàma Sakka - bố thí các món ăn thượng vị tối thắng
6. Ugga Vesàlika - bố thí các món đồ khả ý tối thắng
7. Hatthigàmala Uggàta - hộ trì Tăng chúng tối thắng
8. Sùra Ambattha - có lòng tịnh tín bất động tối thắng
9. Jivaka Komàrabhacca - được dân chúng kính mến tối thắng
10. Nakulapità - đệ nhất chung tình tối thắng
VIDEO 015
PHẨM NGƯỜI TỐI THẮNG - NỮ CƯ SĨ (1-10 )
1. Sujàtà Senàndìhità - quy y đầu tiên
2. Visàkhà Migàramàtà - bố thí tối thắng
3. Khujjuttar - nghe nhiều tối thắng
4. Sàmàvati - trú từ tâm tối thắng
5. Uttarà Nandamàtà - tu thiền tối thắng
VIDEO 016
PHẨM NGƯỜI TỐI THẮNG - NỮ CƯ SĨ (tiếp)
6. Suppavàsà Koliyadhita - bố thí các món ăn thượng vị tối thắng
7. Suppiyà - săn sóc người bệnh tối thắng
8. Kàtiyànì - có lòng tịnh tín bất động tối thắng
9. Nakulamàtà - đệ nhất chung tình tối thắng
10. Kàlì - có lòng tịnh tín đối với lời nghe đồn tối thắng (nữ cư sĩ ở Kulagharikà)
15. PHẨM KHÔNG THỂ CÓ ÐƯỢC
VIDEO 18
PHẨM KHÔNG THỂ CÓ ĐƯỢC (tiếp - Không Thể Xẩy Ra)
VIDEO 19
16. PHẨM MỘT PHÁP
17. PHẨM CHỦNG TỬ
VIDEO 20
17. Phẩm Chủng Tử (tiếp)
18. Phẩm Makkhali
VIDEO 21
19. Phẩm Không Phóng Dật
20. Phẩm Thiền Ðịnh
VIDEO 22
21. Phẩm Thiền Ðịnh (2) - THÂN HÀNH NIỆM
Chương Hai Pháp
VIDEO 23
Chương Hai Pháp / 01. Phẩm Hình Phạt
VIDEO 24
Chương Hai Pháp / 02. Phẩm Tranh Luận
VIDEO 25
Chương Hai Pháp / 03. Phẩm Người Ngu
VIDEO 26
Chương Hai Pháp / 04. Phẩm Tâm Thăng Bằng
VIDEO 27
Chương Hai Pháp /
04.Phẩm Tâm Thăng Bằng (tiếp)
05. Phẩm Hội Chúng
VIDEO 28
Chương Hai Pháp /
06. Phẩm Người
07. Phẩm Lạc
VIDEO 29
Chương Hai Pháp / 08. Phẩm Tướng
VIDEO 30
Chương Hai Pháp / 09. Phẩm Các Pháp
VIDEO 31
Chương Hai Pháp / 10. Phẩm Kẻ Ngu
VIDEO 32
10. Phẩm Kẻ Ngu (tiếp)
11. Phẩm Các Hy Vọng
VIDEO 33
11. Phẩm Các Hy Vọng (tiếp)
VIDEO 34
11. Phẩm Các Hy Vọng (tiếp)
12. Phẩm Hy Cầu
13. Phẩm Bố Thí
VIDEO 35
14. Phẩm Ðón Chào
15. Phẩm Nhập Ðịnh
VIDEO 36
16. Phẩm Phẫn Nộ
17. Phẩm Thứ Mười Bảy
Chương Ba Pháp
VIDEO 3701. Phẩm Người Ngu
[TIẾP TỤC CẬP NHẬT]




















